Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 37: Tiếng Chân Trên Mái

Đêm thứ một trăm đến không ồn ào. Chiều mười sáu tháng chín, sau cơn gió mang mùi sông, mưa bắt đầu rơi lất phất. Hạt mưa nhỏ, thưa, gõ nhẹ lên tàu lá…

Nội dung chương

Đêm thứ một trăm đến không ồn ào.

Chiều mười sáu tháng chín, sau cơn gió mang mùi sông, mưa bắt đầu rơi lất phất. Hạt mưa nhỏ, thưa, gõ nhẹ lên tàu lá chuối và mái ngói nhà thầy đồ Tư. Người trong nhà không ai nói đó là mưa rào hay mưa dầm. Họ chỉ nghe tiếng nước và hiểu rằng Cung Vôi ngoài cổng, Cung Vôi ở ngưỡng cửa, từ giờ sẽ phải chịu thử thách suốt đêm.

Tư đi một vòng quanh nhà trước khi trời tối hẳn.

Cung ở cổng còn nguyên, mũi tên chĩa ra ngõ vẫn rõ. Cung ở ngưỡng cửa buồng trắng và liền nét. Lưới cành dâu quanh giường đã buộc chặt. Kiếm gỗ đào treo ở đầu giường, dây mới, chuôi hướng xuống vừa tầm tay ông khi ngồi. Bát quái dưới chiếu không ai được xê dịch. Hai ngọn đèn dầu đã châm, bấc cháy nhỏ mà đều.

Bà Sen ngồi ở gian ngoài, tay lần tràng hạt cũ. Bà Hai Lựu ngồi gần cửa, bên cạnh chậu nước và khăn sạch. Thầy Mùi ở trong buồng, góc đối diện cửa sổ, lưng dựa vào cột, cành dâu tằm dài đặt ngang trên đùi. Mây nằm trong lưới, ôm Khang sát vào lòng. Đứa bé mặc áo mỏng, trán lộ vết bớt đen, mắt nhìn lên trần nhà như đang nghe điều gì người lớn chưa nghe thấy.

Tư ngồi ngoài lưới, gần đầu giường.

Ông đã ngồi như thế này trong những đêm trăm ngày trước, nhưng ba lần trước ông ngồi mà không biết mình đang chờ cái gì. Đêm nay ông biết. Biết làm đêm dài hơn, và cũng làm mỗi tiếng động đều có hình thù.

Đầu buổi tối, Khang còn bú được một ít. Nó bú chậm, rồi nhả ra, quay mặt vào ngực mẹ. Mây vỗ nhẹ lưng con, miệng ru không thành tiếng. Sốt chưa lên. Da nó ấm bình thường. Tư đưa tay chạm vào bàn chân con qua lớp lưới. Bàn chân nhỏ, mềm, các ngón co lại khi chạm vào tay cha.

- Nó vẫn yên, thầy ạ.

Thầy Mùi không mở mắt.

- Chưa đến giờ. Đừng mừng sớm, cũng đừng tự làm mình rối. Ngồi yên, giữ hơi thở đều. Nhà này đêm nay cần người tỉnh, không cần người hoảng.

Ngoài sân, mưa rơi đều hơn. Nước từ mái hiên nhỏ xuống chiếc chum sành thành tiếng đều đặn. Con chó nằm dưới bếp từ chiều, không sủa, chỉ thỉnh thoảng rên khẽ rồi im. Gà trong chuồng cũng im khác thường. Cả xóm Hạ Trạch như biết nhà thầy đồ đang có việc, nhà nào nhà nấy đóng cửa sớm. Không tiếng gọi nhau, không tiếng trẻ con đùa ngoài ngõ.

Canh một trôi qua trong im lặng.

Tư đếm thời gian bằng tiếng nước nhỏ và tiếng tràng hạt của bà Sen. Mỗi hạt gỗ chạm vào nhau rất nhẹ, nhưng trong nhà vắng, âm thanh nghe rõ như tiếng gõ cửa xa. Bà Hai Lựu mấy lần đứng lên xem đèn, rồi lại ngồi xuống. Bà đã đỡ bốn đứa trẻ cho nhà này, đưa ba đứa ra đời rồi lại nhìn ba đứa được chôn đi. Đêm nay bà không nói một lời thừa.

- Bà Hai, bà có sợ không? Tư hỏi khẽ.

Bà nhìn vào buồng.

- Sợ chứ, ông đồ. Nhưng sợ mà chạy thì đứa bé nằm một mình à? Tôi già rồi, ở đây với nó.

Mây nghe thấy, mắt đỏ lên nhưng không khóc. Bà đã khóc quá nhiều trong sáu năm qua. Đêm nay nước mắt như cạn, chỉ còn sự tỉnh táo đau đớn của người mẹ biết mình không được phép gục.

Canh hai, mưa nặng hạt hơn một lúc rồi lại nhỏ đi. Gió thổi qua khe cửa, làm ngọn đèn ở gian ngoài chao nhẹ. Bà Sen vội lấy tay che. Lửa đứng lại, vàng như cũ.

Khang cựa mình. Nó khóc một tiếng ngắn, rồi nín. Mây áp má vào trán con.

- Chưa sốt. Người nó vẫn mát.

Tư gật đầu, nhưng bàn tay ông đã nắm chặt mép chiếu. Ông nhớ An, nhớ Bình, nhớ Cát. Ba lần, sốt đều đến như một bàn tay đặt lên trán trẻ con rồi siết dần. Tư từng bế con chạy trong đêm, từng quỳ trước cổng nhà tổ, từng ghi từng ngày vào sổ mà vẫn không giữ được ai. Đêm nay ông không chạy đi đâu nữa. Ông ở đây, với kiếm, với trận, với người thầy pháp, và với người mẹ đang lấy thân mình làm một lớp cửa nữa cho con.

Gần đến giờ Tý, thầy Mùi mở mắt.

Thầy không nói gì. Thầy nghiêng đầu, nghe.

Tư cũng nghe. Ban đầu chỉ là tiếng mưa trên mái. Rồi giữa tiếng mưa đều đặn, có một âm thanh khác chen vào. Nhẹ. Không đều. Một bước nặng, một bước kéo lê.

Tư ngẩng lên nhìn mái nhà.

Âm thanh đi từ phía sau nhà ra phía trước, chậm rãi, trên những viên ngói ướt. Bước chân trái đặt xuống nghe rõ. Bước chân phải kéo theo sau, quệt nhẹ, như người mang một chân đau không nhấc nổi.

Khập. Khiễng. Khập. Khiễng.

Mây ôm Khang chặt đến mức đứa bé khẽ kêu. Bà Sen ngừng lần hạt. Bà Hai Lựu đứng dậy nửa chừng rồi ngồi xuống theo cái ra hiệu rất nhỏ của thầy Mùi.

Không ai được lên tiếng trước.

Tiếng chân đi vòng quanh nhà. Nó đi trên mái, nhưng Tư có cảm giác nó đang nhìn xuống qua từng khe ngói, tìm đúng buồng có đứa bé. Nó đi một vòng, dừng lại ngay phía trên giường. Im lặng kéo dài đến mức tiếng mưa như to hơn.

Rồi nó đi tiếp vòng thứ hai.

Lần này chậm hơn. Mỗi bước như cố ý để người trong nhà nghe rõ chân nào lành, chân nào què. Tư nhớ lời bà lão mù họ Tạ, nhớ chuyện người đàn bà bị đánh què chân phải nửa thế kỷ trước. Ông nhớ giấc mơ người đàn bà đứng dưới giếng khóc từ nhiều năm trước. Tất cả những mảnh rời rạc nay đi thành tiếng chân trên mái nhà ông, trong đúng đêm con ông tròn một trăm ngày.

- Thầy, Tư thì thầm.

Thầy Mùi đặt một ngón tay lên môi.

- Nó đang thử trận. Đừng đáp. Đừng gọi tên nó khi chưa cần. Để nó tự lộ ý.

Tiếng chân dừng ở phía cửa sổ buồng đẻ. Một lúc lâu không động tĩnh. Khang mở mắt. Đứa bé không khóc. Nó nhìn chằm chằm về phía cửa sổ, nơi màn mưa làm bên ngoài tối đen. Vết bớt trên trán nó như một giọt mực sắp loang.

Mây thì thầm vào tai con, không thành lời ru, chỉ là hơi thở của mẹ.

Tư nhìn kiếm gỗ đào. Kiếm treo yên. Chưa rung. Chưa đến lúc.

Ở gian ngoài, ngọn đèn dầu bỗng cao lên một chút rồi hạ xuống. Bà Sen che tay quanh lửa. Bà Hai Lựu nhìn chằm chằm vào bóng đèn in trên vách. Bóng ấy kéo dài, méo đi, rồi trở lại.

Tiếng chân trên mái lại đi. Lần này nó không đi vòng nữa. Nó đi thẳng từ phía trên cửa sổ về phía giữa nhà, rồi dừng. Một viên ngói khẽ kêu dưới sức nặng vô hình.

Tư nghe tim mình đập trong tai. Ông muốn đứng lên, muốn cầm kiếm ngay, muốn mở cửa ra xem thứ gì đang ở trên mái nhà mình. Nhưng lời thầy Mùi giữ ông ngồi yên. Chém trước khi nó qua ngưỡng trận thì kiếm không có lực. Ra khỏi vị trí thì trận hở. Ông đã thua ba lần vì bất lực, đêm nay ông không thể thua vì nôn nóng.

Mưa vẫn rơi. Nước ở Cung Vôi ngoài cổng chắc đã bắt đầu làm vôi nhão, nhưng cung trong buồng còn được mái hiên che một phần. Tư tự nhủ phải chờ đến khi trời sáng kiểm tra, mà cũng tự biết đêm nay không ai được bước ra ngoài.

Trong lúc chờ, Tư nhớ lại lời thầy Mùi dặn lúc chập tối, từng câu một như nhớ bài cho học trò. Dù nghe tiếng ai gọi ngoài cửa cũng không được mở. Dù nghe tiếng người thân khóc ngoài sân cũng không được đáp. Quỷ khi chưa vào được nhà thì mượn tiếng người để kéo người ra khỏi trận. Chỉ khi nó tự thò thân qua ngưỡng, trận đồ mới giữ được nó và kiếm mới chém được nó.

- Nếu nó gọi tên tôi thì sao? Lúc ấy Tư đã hỏi.

- Thì anh càng phải ngồi yên. Nó gọi tên người sống là để người sống tự bước ra.

- Nếu nó gọi tên đứa bé?

Thầy Mùi khi ấy nhìn thẳng vào ông.

- Nó không cần gọi. Nó đã đánh dấu đường đến đứa bé từ ba đứa trước rồi. Việc của ta là cắt đường ấy trong đêm nay.

Những lời ấy bây giờ trở lại, rõ ràng hơn cả tiếng mưa. Tư đặt hai bàn tay lên đầu gối, cố giữ cho chúng không run. Ông là thầy đồ, cả đời cầm bút và thước, chưa từng cầm dao kiếm đánh ai. Thanh kiếm treo đầu giường là gỗ, nhẹ hơn ông tưởng, nhưng trách nhiệm đi cùng nó nặng đến mức chỉ nghĩ đến đã mỏi tay. Ông sợ mình sẽ chém hụt. Ông sợ hơn nữa là mình sẽ không dám chém khi nhìn thấy một bàn tay giống tay người.

Mây như đoán được ý chồng. Bà nói rất khẽ, chỉ đủ cho ông nghe:

- Đến lúc phải chém, anh đừng nhìn nó là người. Anh nhìn con mình thôi.

Tư gật đầu. Ông nhìn Khang. Đứa bé đã thôi vặn mình, nằm yên trong lòng mẹ, mắt vẫn mở. Trong ánh đèn vàng, gương mặt nó nhỏ và gầy hơn những đứa trẻ đủ ngày khác trong làng, vì mẹ nó suy kiệt từ khi mang thai, vì nhà nó nghèo, và vì chưa đầy một trăm ngày nó đã phải gánh một món nợ không phải của nó. Tư thấy lòng mình thắt lại. Dù vết bớt kia là dấu của Cát quay lại hay chỉ là dấu quỷ dùng để tìm đường, thì đứa bé đang thở trong lòng mẹ nó là Khang, là một mạng người riêng, không phải món đồ để ai đòi qua đòi lại.

Ngoài ngõ, một tiếng chó tru rất xa vọng lại rồi tắt. Không phải chó nhà Tư. Con chó dưới bếp ngẩng đầu, tai dựng lên, nhưng vẫn không sủa. Bà Hai Lựu khẽ nói:

- Chó thấy mà không dám sủa thì không phải người đi đêm đâu.

Bà Sen lẩm bẩm đọc một câu kinh ngắn, tiếng nhỏ như hơi thở. Thầy Mùi vẫn đứng yên ở góc buồng, cành dâu trong tay không động. Sự im lặng của thầy làm Tư vững hơn một chút. Người từng học nghề ở đền Kiếp Bạc ấy không tỏ ra sợ hãi, cũng không tỏ ra coi thường. Thầy chỉ chờ, như người gác cửa biết kẻ trộm sẽ đến từ hướng nào nhưng chưa biết nó sẽ dùng tay nào để phá khóa.

Khang bỗng khóc thét.

Tiếng khóc đến bất ngờ, sắc và dài, khác hẳn những tiếng khóc đói hay giật mình. Mây vội vỗ, vội đưa con lên vai, nhưng đứa bé cứ hướng mặt về phía cửa sổ mà khóc, người vặn đi, hai tay quơ như muốn đẩy thứ gì ra. Thầy Mùi cầm cành dâu đứng lên, không bước, chỉ đứng.

Cùng lúc ấy, ngọn đèn dầu trong buồng tự dưng cháy xanh.

Chương khác

Xem thêm