Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 36: Bốn Ngày Trước Đêm Trăm
Từ đêm giếng sau nhà tổ sôi nước, nhà thầy đồ Tư không còn một giấc ngủ trọn. Ngày thứ chín mươi sáu, Khang bú ít hơn thường ngày. Nó vẫn mở mắt, vẫn nắm…
Nội dung chương
Từ đêm giếng sau nhà tổ sôi nước, nhà thầy đồ Tư không còn một giấc ngủ trọn.
Ngày thứ chín mươi sáu, Khang bú ít hơn thường ngày. Nó vẫn mở mắt, vẫn nắm ngón tay mẹ, nhưng hơi thở có lúc nhanh, có lúc như bị giữ lại giữa ngực. Phạm Thị Mây bế con đi lại trong buồng, miệng hát ru rất khẽ. Bà hát chưa hết câu đã quên lời, lại bắt đầu từ đầu. Tư ngồi ngoài hiên nhìn vợ, thấy tóc vợ đã bạc thêm chỉ trong mấy tháng. Người đàn bà ba mươi chín tuổi ấy sinh bốn lần, mất ba đứa, nay ôm đứa thứ tư đi qua từng ngày như đi trên mặt băng mỏng.
Thầy Cấn Văn Mùi ở hẳn trong nhà từ ngày thứ chín mươi lăm. Thầy trải chiếu ở gian ngoài, đêm nào cũng thức đến quá canh ba mới chợp mắt. Buổi sáng ngày chín mươi sáu, thầy gọi Tư ra sân.
- Từ hôm nay không ai được nói chuyện to trong nhà. Nhà đang căng như dây đàn, một tiếng động mạnh cũng làm đứa bé giật mình hao khí.
Tư gật đầu. Ông đã quen nghe những lời như vậy, nhưng lần này ông không còn coi đó là lời dặn của một thầy pháp xa lạ. Ba nấm mộ dưới gốc ổi dạy ông rằng điều không nhìn thấy vẫn có thể lấy đi những gì ông thương nhất.
Việc đầu tiên trong ngày là vẽ lại Trận Cung Vôi.
Bà ngoại Sen đến từ sớm, theo sau là bà đỡ Hai Lựu. Hai người đàn bà già đi rất chậm qua ngõ, mỗi người mang một thứ. Bà Sen mang thúng vôi bột trắng mịn, thứ vôi bà đã sàng ba lần, bỏ hết sạn. Bà Hai Lựu mang bó cành dâu tằm mới cắt, lá còn xanh, nhựa còn ứa ở cuống.
Bà Sen quỳ xuống ngưỡng cửa buồng, lấy ngón tay chấm thử mặt đất.
- Đất ẩm rồi. Vôi vẽ hôm nay, mai phải xem lại. Đến đêm trăm, nếu mưa thì càng phải canh. Cung mà mờ một đoạn là như cửa hé một khe.
Tư quỳ xuống bên mẹ vợ. Lần đầu tiên bà vẽ cung vôi là năm một nghìn chín trăm ba mươi mốt, khi An sắp chào đời. Khi ấy ông còn nghĩ đó là lệ cũ của đàn bà, vẽ cho yên lòng. Lần thứ hai, lần thứ ba, ông đã tự tay cầm vôi. Lần này ông không dám để ai làm thay đoạn ở chính giữa ngưỡng cửa.
Cây cung cong từ mép cửa bên trái sang mép cửa bên phải. Mũi tên chĩa thẳng ra sân, theo đúng lời dặn xưa, như sẵn sàng bắn đuổi thứ muốn bước vào buồng. Tư vẽ chậm, tay run vì phải giữ nét cho liền. Mây đứng trong buồng bế Khang nhìn ra. Đứa bé nhìn vệt trắng dưới đất, bỗng im bặt, mắt mở to.
Bà Hai Lựu nói:
- Nó nhìn thấy cung đấy. Trẻ con mắt còn trong, nhiều khi thấy trước người lớn.
Không ai đáp. Thầy Mùi lấy cành dâu kết lưới quanh giường. Từng cành được đặt chéo nhau, buộc bằng sợi gai, khoảng cách đều như mắt võng. Lưới không kín mít, vẫn chừa chỗ cho Mây nằm cạnh con và cho Tư đưa tay vào khi cần. Thầy dặn lưới dâu không phải để quỷ không nhìn thấy đứa bé, mà để khi nó thò tay vào, cành dâu sẽ giữ nó lại một khắc. Một khắc ấy có thể là ranh giới giữa sống và chết.
- Đêm ấy tôi quất cành dâu vào bốn góc buồng trước. Sau đó mới đến trận đồ. Anh Tư nhớ thứ tự, đừng rối.
Tư nhắc lại từng việc như học trò thuộc bài. Kiếm gỗ đào treo đầu giường, dây treo phải là dây mới, mối buộc phải chắc. Trận đồ bát quái vẽ bằng mực chu sa dưới chiếu, tâm trận đặt đúng chỗ Khang nằm. Cung Vôi ở ngưỡng cửa buồng và một cung nữa ở cổng ngõ. Đèn dầu để hai ngọn, một trong buồng, một ở gian ngoài, bấc cắt ngắn để lửa cháy đều. Nước sạch đặt trong chậu đồng, khăn sạch xếp bên cạnh, phòng khi Khang sốt.
Mây nghe đến chữ sốt thì ôm con chặt hơn.
- Nếu nó sốt trước đêm trăm thì sao, thầy?
Thầy Mùi đáp:
- Sốt nhẹ là nó đang nếm sinh khí, như những lần trước. Nhưng đêm trăm mới là đêm nó được phép lấy mạng trong đất nhà này. Ta giữ qua đêm ấy chưa phải xong, song qua được mới còn đường nói chuyện nợ nần.
Mây cúi xuống hôn lên trán con. Vết bớt đen hình chữ Oan vẫn nằm giữa trán, đậm như vết mực không rửa được. Có lúc Tư nhìn vết bớt ấy mà giận chính mình. Chính tay ông quẹt nhọ nồi lên trán Cát năm xưa, trong cơn đau không còn biết làm gì khác để nhận ra con nếu con quay lại. Nay dấu ấy quay lại thật, nằm trên trán đứa bé còn sống, như một lời buộc tội và cũng là một lời cầu cứu.
Buổi trưa, Tư mài chu sa.
Chu sa đựng trong bát sứ nhỏ, màu đỏ sẫm. Ông nhỏ từng giọt nước, dùng thỏi mài đi mài lại cho mịn. Mùi đá, mùi nước mưa và mùi giấy cũ trộn vào nhau. Thầy Mùi ngồi bên, tự tay kiểm tra lại kiếm gỗ đào thỉnh từ đền Kiếp Bạc. Kiếm không dài, lưỡi gỗ đã lên nước nâu bóng, những nét bùa khắc dọc thân vẫn rõ. Ông từ ở đền từng dặn kiếm này chém được quỷ, không chém được nợ. Câu ấy Tư đã nghe, đã ghi nhớ, nhưng càng gần đêm trăm, ông càng sợ mình sẽ quên nó trong lúc hoảng loạn.
- Thầy Mùi, nếu kiếm chém trúng, nó có chết hẳn không?
Thầy ngẩng lên.
- Tôi đã nói rồi. Kiếm chỉ chém được phần thân đã qua ngưỡng trận. Nó không giết được hồn, càng không xóa được nợ. Đêm trăm, ta chỉ giành lấy đứa bé khỏi tay nó. Còn nợ phải trả bằng cách khác.
- Cách khác là mở giếng.
- Phải. Nhưng việc ấy chưa làm được khi trưởng họ còn khóa cổng. Cứ giữ đứa bé sống đã. Người sống thì còn có thể nói phải trái. Đứa bé mà mất, mọi lời sám hối cũng muộn.
Tư im lặng mài tiếp. Ngoài sân, nắng tháng chín vàng nhạt, không gắt như nắng hè nhưng vẫn làm mặt đất bốc hơi. Gốc ổi sau vườn đứng yên, ba nấm mộ nhỏ nép dưới bóng lá. Ông đã rào lại ba nấm mộ bằng mấy thanh tre, đặt trước mỗi mộ một bát cát nhỏ. Không ai trong nhà nhắc đến chúng trong những ngày này, nhưng ai đi qua cũng bước nhẹ hơn.
Ngày thứ chín mươi bảy, người làng đến ít hẳn. Có người đưa cho nhà Tư nắm gạo rồi đi ngay, không vào nhà. Có người đứng ngoài ngõ nhìn vào, thấy thầy Mùi thì vội quay lưng. Lời đồn nhà thầy đồ sắp đánh nhau với ma đã lan khắp Hạ Trạch. Kẻ thương thì sợ liên lụy, kẻ sợ thì nói nhà ấy mang họa vào làng. Tư không trách họ.
Lớp học đã đóng từ lâu. Mấy chiếc bàn tre xếp dựa vào vách, mặt bàn phủ bụi mỏng. Tư lau từng chiếc rồi đặt lại như cũ. Ông nhớ những buổi sáng học trò đọc bài vang cả ngõ. Nay nhà vắng tiếng trẻ con, chỉ có tiếng Khang khóc từng hồi và tiếng Mây dỗ con khản giọng.
Ngày thứ chín mươi tám, bà Sen ở lại nhà con gái. Bà trải chiếu dưới chân giường, nói sẽ nằm đó đến qua đêm trăm.
- Mẹ già rồi, không bế được nó chạy, nhưng mẹ nằm ở cửa, muốn vào phải bước qua mẹ trước.
Mây nắm tay mẹ, nước mắt rơi xuống mu bàn tay già nua. Tư quay mặt đi. Ông biết không một thân người nào ngăn được Mẹ Ranh nếu luật của nó đã cho phép, nhưng ông cũng biết tình thương có khi không cần thắng, chỉ cần đứng ở đó để người ta không gục xuống một mình.
Đêm chín mươi tám, Khang khóc đúng giờ Tý. Tiếng khóc không to, mà rít lên từng đoạn, như bị bàn tay vô hình bịt miệng rồi buông ra. Mây vỗ lưng con, Tư thắp thêm đèn, thầy Mùi ngồi dậy lắng nghe mái nhà. Không có tiếng chân. Chỉ có tiếng gió qua tàu lá chuối sau vườn. Khang khóc một lúc rồi ngủ, trán lấm tấm mồ hôi.
Thầy Mùi nói nhỏ:
- Nó đang đi vòng ngoài. Chưa vào được, nó làm cho cả nhà mất sức trước.
Ngày thứ chín mươi chín, công việc chuẩn bị được làm lại từ đầu.
Tư kiểm tra dây treo kiếm, thay dây mới dù dây cũ chưa sờn. Bà Sen vẽ lại Cung Vôi ở ngưỡng cửa, nét nào hơi mờ đều được tô đậm. Bà Hai Lựu thay bó cành dâu mới, bó cũ đem đốt ngoài sân, tro rắc quanh gốc ổi. Thầy Mùi mở trận đồ bát quái dưới chiếu ra xem từng nét chu sa. Có một nét ở góc giường bị ẩm, màu hơi nhạt. Thầy mài thêm chu sa, tô lại, rồi ngồi nhìn rất lâu.
- Trận đồ không được đứt nét. Đứt ở đâu, quỷ sẽ tìm ở đó mà vào.
Mây ngồi trên giường, lưng dựa vào vách. Mấy đêm thức trắng làm mắt bà trũng sâu, môi khô, tay ôm con không rời. Tư mang vào bát cháo loãng, đặt bên cạnh.
- Em ăn một ít. Đêm mai còn dài.
- Em không nuốt được.
- Không nuốt được cũng phải nuốt. Em ngã xuống thì ai nằm cạnh con?
Mây nhìn chồng, rồi cầm bát lên. Bà ăn chậm, từng thìa như nhai cả nỗi sợ. Khang ngủ trong lòng mẹ, thỉnh thoảng giật mình, vết bớt trên trán như đậm hơn dưới ánh đèn.
Đến chiều, Mây nói điều mà Tư đã sợ phải nghe.
- Đêm mai em nằm trong lưới, cạnh con. Em không nằm ngoài đâu.
Tư đáp ngay:
- Thầy dặn trong lưới chỉ để một người. Thêm người là vướng trận.
- Em là mẹ nó. Ba lần trước em đều ở cạnh mà không giữ được. Lần này em không ra ngoài ngồi nhìn nữa. Nếu nó thò tay vào, em che cho con. Thân em yếu, nhưng cũng đủ che một đứa bé.
Thầy Mùi không ngăn như Tư tưởng. Thầy nhìn Mây một lúc, rồi gật đầu rất chậm.
- Bà nằm phía trong, ôm con quay mặt vào vách. Dù nghe tiếng ai gọi cũng không quay ra. Anh Tư ở ngoài lưới, gần đầu giường, tay phải để gần kiếm nhưng không được chạm vào kiếm trước lúc cần. Tôi ở góc buồng đối diện cửa sổ. Bà Sen và bà Hai Lựu ở gian ngoài, giữ đèn và giữ cửa. Ai cũng có chỗ của mình.
Mây cúi đầu. Bà không cảm ơn, chỉ ôm Khang chặt hơn, như vừa giành được quyền ở bên con trong giờ phút nguy hiểm nhất.
Chiều ngày thứ chín mươi chín, khi Tư ra sân kiểm tra Cung Vôi ở cổng lần cuối, ông dừng lại nhìn trời. Phía sông Đáy, mây đen kéo đến từng lớp, nặng và thấp, che dần ánh nắng cuối ngày. Gió đổi chiều, mang theo mùi nước sông và mùi đất ẩm dù chưa có giọt mưa nào rơi xuống.