Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 34: Chiếc Lược Sừng

Buổi họp họ ở đình kết thúc mà không có quyết định trục xuất nào được đưa ra. Ông Cừ, sau khi bà Sen đứng lên nói hai chữ tôi nhớ, đã cho hoãn họp với lý…

Nội dung chương

Buổi họp họ ở đình kết thúc mà không có quyết định trục xuất nào được đưa ra. Ông Cừ, sau khi bà Sen đứng lên nói hai chữ tôi nhớ, đã cho hoãn họp với lý do việc hệ trọng cần bàn thêm trong họ, một cách rút lui giữ thể diện mà ai có mặt hôm ấy cũng hiểu là ông đã thua một nước cờ lớn. Dân làng ra về bàn tán khắp các ngõ: hóa ra chuyện người đàn bà chết giếng nhà tổ không phải thầy đồ Tư bịa ra, hóa ra người già trong làng còn nhiều người nhớ, chỉ là chưa ai dám nói trước mặt trưởng họ cho đến khi một bà già nhà ngoại đứng lên nói thay cho tất cả. Từ chiều hôm ấy, không khí quanh nhà Tư đổi hẳn. Người làng qua lại cổng nhà ông không còn bước nhanh nữa. Có người dừng lại hỏi thăm sức khỏe mẹ con Mây bằng giọng thật lòng. Có người họ hàng xa mang sang ít gạo mới, đặt ở cổng rồi đi, không vào nhà, như một cách xin lỗi thầm lặng cho những ngày xa lánh vừa qua.

Trong những ngày sau buổi họp họ, các cụ già trong làng và trong họ bắt đầu lặng lẽ đến nhà Tư vào lúc chập tối, từng người một, không ai đi cùng ai, như thể họ đã hẹn nhau mà không cần hẹn. Họ đến uống bát nước, xem mặt Khang một lát, rồi kể cho Tư nghe thêm những mảnh chuyện về Gấm mà họ giữ kín cả đời. Một cụ kể Gấm hát quan họ rất hay, mỗi dịp hội làng là cụ Hoành lại cho cô ra đình hát một bài, người làng mê tiếng hát ấy đến mức sau khi cô chết, hội làng mấy năm liền không ai hát thay được bài ấy cho trọn. Một cụ khác kể Gấm biết chữ thật, từng dạy chữ cho cả đám trẻ con người ở trong nhà tổ, đứa nào nhớ chữ nhanh cô thưởng cho một quả ổi trong vườn sau, chính là vườn có gốc ổi và cái giếng định mệnh ấy. Một cụ bà thì kể kỹ hơn về uẩn khúc làm Tư phải ghi riêng ra một trang dài: Gấm bị bức tử không chỉ vì vợ cả ghen tuông thường tình. Bà cả sinh được con trai sau nhiều năm không con, trong lòng vẫn sợ địa vị không vững khi Gấm cũng mang thai và được cụ Hoành thương yêu hơn. Bà cả đã tính chuyện ép Gấm phải nhường đứa con trong bụng cho mình nuôi làm con đích, để nhà tổ chỉ có một dòng con duy nhất do bà nắm giữ, Gấm làm mẹ mà không được nhận con, chỉ được ở lại nhà tổ làm người nuôi con hộ cho vợ cả. Gấm không chịu. Cô thà chết chứ không nhường con. Câu chuyện từ chối ấy lan đến tai cụ Hoành trong một bữa cơm, cụ nổi giận với vợ cả một trận, và chỉ ít ngày sau đó, Gấm bị vu tội tư thông, bị đánh què chân, bị giam vào bếp cũ, và chết dưới giếng trong đêm mưa. Các cụ kể đến đây đều hạ giọng và lắc đầu, bảo đời người đàn bà ấy khổ từ lúc bước vào nhà tổ đến lúc nằm xuống đáy giếng, không có lấy một ngày thật sự được yên thân, ngoài những ngày đầu mới về còn được chồng thương và được hát một bài ở sân đình.

Những lời kể lặng lẽ ấy, Tư đều ghi lại hết vào sổ, ghi cả tên người kể và ngày kể, dù nhiều cụ dặn ông đừng ghi tên họ vào, sợ con cháu trong họ biết được lại trách người già lắm chuyện. Ông trấn an từng người rằng sổ này chỉ mình ông và thầy Mùi xem, sau này có dùng đến lời kể của ai, ông sẽ xin phép người ấy trước, không bao giờ tự ý mang tên người già ra giữa họ mà làm họ khó xử. Chính sự cẩn trọng ấy làm các cụ càng tin ông hơn và càng kể kỹ hơn trong những lần đến sau. Có cụ còn mang theo cả những vật nhỏ liên quan đến nhà tổ ngày xưa để ông xem: một mảnh ngói cũ của gian bếp đã phá, một đồng tiền cổ đào được ở vườn sau nhà tổ khi làm đất, một trang giấy chép tay bài hát quan họ mà người làng tin là bài Gấm từng hát ở sân đình. Những vật ấy không phải vật chứng trực tiếp như chiếc lược sừng sắp được trao, nhưng chúng ghép lại thành một bức tranh đời sống đầy đủ về nhà tổ họ Ngô nửa thế kỷ trước, một bức tranh mà trong đó Gấm không phải là một bóng ma, mà là một người con gái trẻ có tiếng hát, có chữ nghĩa, có học trò nhỏ quây quanh. Và có một kết cục bi thảm mà cả làng đã cùng nhau im lặng chôn giấu trong hơn năm mươi năm ròng rã.

Mảnh chuyện cuối cùng và quý giá nhất đến vào một buổi tối mưa nhỏ, khi Khang đã được hơn chín mươi ngày tuổi. Một cụ già trong họ, năm nay đã ngoài tám mươi, là con của người ở cũ từng hầu hạ trong nhà tổ cùng thời với bà Tạ, được cháu dìu đến nhà Tư. Cụ ngồi trong gian giữa rất lâu, uống hết hai bát nước chè, xem mặt Khang và sờ nhẹ lên vết bớt trên trán nó bằng bàn tay run rẩy, rồi mới lấy trong tay áo ra một vật gói trong khăn tay đã cũ, đặt lên bàn trước mặt Tư. Tư mở khăn ra. Trong khăn là một chiếc lược sừng cũ, màu sừng đã ngả nâu sẫm vì thời gian, răng lược gãy mất hai chiếc ở đầu, thân lược khắc một bông hoa nhỏ rất tinh xảo, mặt sau lược còn mờ mờ hai chữ Hán khắc tay đã mòn gần hết mà Tư ghé đèn vào xem kỹ mới đọc được là tên của một người con gái. Cụ già nắm tay Tư, nói bằng giọng thì thầm của người trao lại một báu vật giữ kín suốt đời người.

- Đây là chiếc lược sừng của cô Gấm. Mẹ tôi giữ lại từ ngày cô ấy mất. Mẹ tôi bảo cô Gấm quý chiếc lược này nhất, ngày nào cũng chải tóc bằng nó, hôm bị giam vào bếp cũ còn xin người ở mang lược vào cho cô mà không được. Cô mất rồi, mẹ tôi lén giữ lược lại, không dám nói với nhà tổ, giữ trong buồng tối hơn năm mươi năm, trước khi mất trao lại cho tôi, dặn khi nào họ Ngô có người dám đứng ra hỏi chuyện cô Gấm cho đàng hoàng thì mang lược ra trao cho người ấy. Hôm nay tôi nghe thầy đọc tên cô ở sân đình, nghe bà Sen nói tôi nhớ, tôi biết người mẹ tôi dặn đã đến rồi. Tôi trao lược cho thầy. Thầy giữ lấy, để sau này có lúc cần gọi tên cô ấy, còn có một vật của cô ấy ở trong tay người sống mà gọi.

Tư cầm chiếc lược sừng trên tay mà tay run lên không kém gì cụ già vừa trao nó. Chiếc lược nhẹ, mát, thơm mùi sừng cũ và mùi thời gian của hơn nửa thế kỷ nằm trong bóng tối. Đây là vật chứng thứ hai của đời Gấm, sau chiếc vòng bạc vẫn còn nằm đâu đó dưới đáy giếng nhà tổ. Vòng bạc ở dưới nước sâu, chưa lấy lên được. Lược sừng ở ngay đây, trong tay ông, bằng chứng sống rằng Đinh Thị Gấm từng là một con người thật, từng chải tóc mỗi sáng, từng hát ở sân đình, từng mang thai và từng từ chối nhường con của mình cho người khác, chứ không phải là một cái tên bị xé khỏi gia phả và một lời đồn ma quỷ mơ hồ trong làng. Tư đứng dậy, cúi lạy cụ già một lạy thật sâu giữa gian nhà, rồi gói chiếc lược lại cẩn thận, đặt vào trong hòm gỗ cùng với thanh kiếm gỗ đào Thánh Trần, hai thứ, một để chém quỷ, một để gọi tên người, nằm cạnh nhau trong bóng tối của chiếc hòm như hai lớp việc mà thầy Mùi đã giảng từ đầu: giữ con qua đêm hẹn, và trả nợ cho người đã chết.

Tư còn mang chiếc lược sừng sang đình cho thầy Mùi xem ngay trong đêm hôm đó, trước khi thầy dọn hẳn vào nhà ông ít ngày sau. Thầy Mùi cầm chiếc lược dưới ánh đèn dầu, lật qua lật lại, đưa lên mũi ngửi, rồi gật đầu chậm rãi và nói một điều làm Tư ghi nhớ mãi. Thầy bảo vật của người chết oan giữ được hơi người rất lâu, nhất là vật dùng hàng ngày sát thân như lược chải tóc. Chiếc lược này, đến ngày lập đàn sám hối hoặc đến đêm cần gọi tên Gấm cho đàng hoàng, sẽ là vật dẫn quan trọng không kém gì chiếc vòng bạc dưới đáy giếng. Có lược trong tay, nhà Tư đã có một đầu mối thật để gọi người chết bằng tên và bằng kỷ vật của chính người ấy, chứ không phải gọi suông bằng miệng nữa. Thầy dặn Tư cất lược cùng chỗ với kiếm, nhưng bọc riêng trong một lớp vải trắng, vì một thứ để chém, một thứ để gọi, công dụng khác nhau, không được để lẫn hơi sát khí của kiếm làm lu mờ hơi người còn sót lại trên lược. Tư làm đúng như lời thầy dặn, cẩn thận như người cất giữ một phần thân thể của người thân vừa tìm lại được sau hơn nửa thế kỷ thất lạc.

Ông cũng dành một buổi sáng để đến nhà cảm ơn từng cụ già đã lặng lẽ đến kể chuyện Gấm trong những ngày qua. Ông không mang theo lễ vật gì đáng giá, nhà ông không còn gì đáng giá nữa sau khi bán ruộng, ông chỉ mang theo lòng biết ơn và một lời hứa: hễ việc nhà ông xong xuôi, tên cô Gấm được trả lại đàng hoàng. Ông sẽ tự tay chép lại toàn bộ câu chuyện của cô vào cuốn gia phả của chi nhà mình, để đời sau còn có người biết mà thắp hương, không để một người đàn bà nào trong họ này phải chết hai lần, một lần ở đáy giếng và một lần trong sự lãng quên của con cháu nữa. Các cụ nghe lời hứa ấy đều gật đầu, có cụ còn nắm tay ông rất lâu không buông, như trút được một gánh nặng đã mang theo suốt từ thời tóc còn xanh đến nay tóc đã bạc trắng và chân đã run không còn đi xa được nữa.

Đêm ấy, Tư ghi vào sổ trang dài nhất kể từ ngày Khang chào đời, ghi hết lời các cụ già, ghi cả lai lịch chiếc lược sừng, rồi ông kết trang sổ bằng một dòng chữ nắn nót: từ nay nhà mình không còn nói suông nữa, nhà mình có nhân chứng, có vật chứng, có tên tuổi người chết trong tay rồi.

Chương khác

Xem thêm