Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 26: Thầy Mùi Trú Trong Đình

Cơn sốt ngày thứ năm mươi lăm của Khang kéo dài đến tận gần sáng mới hạ. Nó hạ từ từ, như thủy triều rút, để lại đứa bé mệt lả, bú ít hơn hẳn, ngủ li bì…

Nội dung chương

Cơn sốt ngày thứ năm mươi lăm của Khang kéo dài đến tận gần sáng mới hạ. Nó hạ từ từ, như thủy triều rút, để lại đứa bé mệt lả, bú ít hơn hẳn, ngủ li bì đến tận trưa hôm sau mới tỉnh, mắt mở ra nhìn mẹ một lúc lâu mới khóc đòi bú. Cả nhà mừng đến rơi nước mắt mà cũng sợ đến mất ngủ thêm một đêm nữa. Tư ghi vào sổ dòng chữ dài nhất từ trước đến nay: ngày thứ năm mươi lăm, con sốt không rõ cớ từ giờ Ngọ đến giờ Dần, đầu nóng chân lạnh, khóc yếu, tự hạ sốt khi trời gần sáng, không dùng thuốc. Ghi xong, ông ngồi lặng nhìn dòng chữ ấy rất lâu. Ông biết cơn sốt này, theo luật thầy Mùi giảng, chưa thể lấy mạng con ông. Nhưng nó là một lời nhắn rõ ràng từ phía bên kia: nó đang nếm dần, nếm thật, và sức của nó mạnh hơn những gì cả nhà tưởng, vì mới ngày thứ năm mươi lăm mà nó đã làm đứa bé sốt đến mức ấy, thì đêm thứ một trăm, khi nó được phép ra tay thật sự, sẽ còn khủng khiếp đến đâu.

Ngay trong đêm sốt ấy, khi cả nhà đang rối ren nhất, có tiếng gõ cửa rất khẽ ở cổng sau, ba tiếng, ngừng, rồi ba tiếng nữa, đúng ám hiệu mà thầy Mùi từng dặn Tư trong thư từ là nếu thầy có lén vào làng thì sẽ gõ như thế. Tư cầm đèn ra mở cổng sau, tim đập thình thịch. Thầy Mùi đứng ngoài ngõ tối, áo ướt sương, tay nải trên vai, đi một mình trong đêm từ bến sông vào, tránh đường chính và đầu làng nơi trai đinh họ Ngô vẫn thỉnh thoảng đi tuần. Ông vào nhà không nói nhiều, đặt tay nải xuống, đi thẳng vào buồng xem Khang đang thiêm thiếp ngủ trong cơn sốt chưa tan hết hẳn. Ông sờ trán nó, bắt mạch ở cổ tay bé xíu của nó rất lâu, nghe nhịp thở, xem màu môi, xem vết bớt, rồi gật đầu chậm rãi.

- Đúng như tôi đoán, ông nói khẽ với cả nhà đang vây quanh giường. Nó nếm sinh khí của đứa bé này rồi đấy. Nếm khá sâu đấy, sâu hơn lệ thường. Đứa bé này sinh khí mạnh, nó bám mẹ nó chặt, nên nó nếm được chừng ấy mà vẫn tự lui được khi trời sáng. Nhưng anh Tư ạ, nó nếm được một lần là nó nhớ đường. Những lần sau sẽ nhanh hơn, mạnh hơn. Đêm thứ bảy mươi và đêm hẹn, anh phải chuẩn bị tinh thần gấp bội lần này.

- Thầy vào làng thế này có nguy hiểm không? Tư hỏi. Ông Cừ mà biết được, ông ấy sẽ làm lớn chuyện.

Thầy Mùi cười nhạt, phẩy tay.

- Tôi biết. Vì thế tôi không vào nhà anh ở đâu. Tôi sẽ trú trong đình làng. Ông Từ đình đã đồng ý cho tôi ngủ nhờ ở gian kho sau đình, ban ngày tôi ở trong đó không ra ngoài, ban đêm tôi mới sang nhà anh khi cần. Đình là đất công của làng, không phải đất nhà tổ họ Ngô, ông trưởng họ của anh dù có quyền đến đâu cũng không đuổi được người trú trong đình nếu ông Từ không đồng ý. Tôi ở đình vừa gần nhà anh, vừa có chỗ đứng chân hợp lệ, lại vừa quan sát được động tĩnh nhà tổ từ xa. Anh cứ yên tâm lo cho vợ con, việc qua lại giữa đình và nhà anh, để ông Từ làm cầu nối.

Kế hoạch ấy được thực hiện ngay từ đêm hôm sau. Ông Từ đình, người đã hé chuyện chết giếng cho Tư từ đầu, nay chính thức bước vào cuộc với vai trò người che chở cho thầy pháp. Ông dọn gian kho sau đình, trải chiếu, để sẵn ấm nước và ít lương khô, nói với bất cứ ai hỏi rằng có người bà con xa của ông lên làng xin trú nhờ ít hôm chờ việc. Dân làng ít ai để ý đến gian kho sau đình, nơi chỉ để trống hòm và đồ thờ cũ. Thầy Mùi ở đó, ngày đọc sách nghề và mài lại thanh gỗ đào phụ, đêm sang nhà Tư xem Khang, dặn dò, ghi chép cùng Tư vào cuốn sổ đếm ngày đã ngày càng dày lên với đủ loại dấu hiệu.

Thầy Mùi ở đình được ít hôm thì người làng bắt đầu để ý có một người lạ thỉnh thoảng xuất hiện ở sân đình vào lúc mờ sáng rồi biến mất. Ông Từ phải khéo léo đánh lạc hướng bằng cách bảo đó là người cháu họ của ông ở làng bên lên xin học việc giữ đình, tính tình ít nói nên không giao du với ai. Lời giải thích ấy tạm đủ dùng vì người làng vốn ít ai quan tâm đến việc nhà của ông Từ goá vợ sống một mình ở đình. Chỉ có một lần, người cháu họ nhà tổ đi qua đình vào buổi chiều, nhìn thấy bóng thầy Mùi thấp thoáng sau gian kho thì đứng lại nhìn rất lâu, rồi về nhà tổ nói gì đó với ông Cừ mà Tư không biết được. Từ hôm ấy, Tư cẩn thận hơn gấp bội. Ông không sang đình vào ban ngày nữa, mọi liên lạc đều qua ông Từ vào lúc chập tối, và thầy Mùi chỉ sang nhà Tư khi thật sự cần, mỗi lần sang đều đổi lối đi khác nhau, khi lối bờ ruộng, khi lối sau vườn chuối nhà ngoại, khi lối tắt qua nghĩa địa nhỏ cuối làng mà người thường không ai dám đi vào ban đêm. Thầy bảo đi lối nghĩa địa lại là lối an toàn nhất, vì kẻ canh giữ nhà Tư sợ ma hơn cả Tư, không đứa nào dám nấp ở đó mà rình.

Có thầy ở gần, tinh thần cả nhà Tư vững lên hẳn. Mây ăn được hơn một chút, ngủ được hơn một chút khi biết đêm nào cũng có thầy ở cách nhà mình chỉ một quãng đường đồng. Khang sau cơn sốt ngày năm mươi lăm hồi phục dần, lại bú khỏe, lại cười, cân nặng nhích lên từng lạng làm cả nhà mừng như bắt được vàng. Tư tranh thủ những đêm thầy sang mà học hỏi thêm về trận pháp, về cách giữ nhà, về những điều phải làm trong những tuần cuối trước đêm hẹn. Thầy Mùi không giấu nghề, dạy đến đâu Tư ghi đến đó, ghi đầy thêm một cuốn sổ nhỏ thứ hai chuyên về trận và kiếm, để phòng khi thầy không có mặt, ông vẫn tự làm được những việc cơ bản.

Những ngày thầy Mùi trú trong đình, ông Từ đình thành người vất vả nhất làng mà không ai biết. Ban ngày ông vẫn giữ đình như thường, quét sân, thắp hương, đóng mở cửa gian chính cho người làng vào lễ. Ban đêm ông phải canh chừng cho thầy pháp ở gian kho, có ai hỏi han bất thường là ông phải bịa chuyện che giấu. Có lần trai đinh họ Ngô đi tuần qua đình vào lúc nửa đêm, nghe tiếng động trong gian kho thì dừng lại hỏi, ông Từ chống gậy ra sân, ho sù sụ, bảo mèo hoang vào kho bắt chuột, đuổi mãi mới đi. Thầy Mùi nấp sau đống hòm trống nghe hết, đợi chúng đi xa mới dám thở mạnh. Sau lần ấy, hai ông già càng thêm cẩn thận: thầy chỉ sang nhà Tư vào những đêm không trăng hoặc mưa, đi lối bờ ruộng sau làng chứ không đi đường chính, và mỗi lần sang đều mang theo một ít đồ nghề giấu trong tay nải như người đi thăm bệnh thường tình.

Tư biết ơn ông Từ đến mức có lần ông quỳ xuống sân đình mà lạy ông một lạy, bảo ơn này nhà ông không biết lấy gì đền đáp. Ông Từ đỡ ông dậy ngay, mắng khẽ rằng thầy đồ đừng làm thế, ông giữ đình cả đời, giữ cho làng một chỗ thờ tự sạch sẽ, nay thấy trong làng có một đứa trẻ sắp bị lấy mạng oan và một người đàn bà chết oan mấy chục năm không ai dám nhắc tên, ông không giúp thì hương khói đình này thắp cho ai. Lời ông Từ nói giản dị mà làm Tư ghi nhớ mãi. Hóa ra trong làng Hạ Trạch này, không phải ai cũng sợ ông trưởng họ đến mức bán rẻ lương tâm. Vẫn có những người già, ít quyền, ít tiếng nói, mà giữ trong lòng một cái cân công bằng không ai mua chuộc được. Tư bắt đầu hy vọng rằng khi sự thật về người đàn bà chết giếng được phơi bày đầy đủ, chính những người như ông Từ, như bà Sen, như bà Lựu sẽ là những người đầu tiên đứng lên nói thay cho kẻ đã chết, và tiếng nói của họ, dù nhỏ, sẽ làm nứt được bức tường im lặng mà ông Cừ đã xây quanh nhà tổ suốt mấy chục năm qua.

Một đêm giữa tháng tám, sau khi xem mạch Khang xong, thầy Mùi ngồi lại uống nước với Tư ở gian giữa rất lâu. Ông nhìn cuốn sổ đếm ngày đã ghi đến ngày thứ sáu mươi mấy, nhìn hòm kiếm đặt ở góc nhà, rồi nói một câu mà Tư biết là quyết định quan trọng nhất của thầy kể từ khi bước vào chuyện nhà này.

- Tôi quyết ở lại làng này cho đến khi xong việc nhà anh, dù phải trú trong đình đến rằm tháng chín. Không về làng Thượng nữa. Đứa bé này, món nợ này, cái giếng này, tôi đã nhìn thấy đủ để biết nếu tôi bỏ đi giữa chừng thì nhà anh mất con là chắc. Tôi trú trong đình, ăn cơm nhà anh chị gửi sang, có bề gì tôi chịu cùng nhà anh. Từ nay, anh dồn hết sức vào việc tìm người chết giếng là ai, tên tuổi thế nào, chết ra sao. Tôi giữ phần trận. Anh tìm được tên người ta, chúng ta mới có cửa thắng hẳn. Không tìm được, đêm trăm ngày tôi chỉ giữ được con anh thêm một đêm, chứ không giữ được cả đời nó đâu, anh phải hiểu cho rõ điều ấy ngay từ bây giờ để khỏi mừng hụt về sau này nữa.

Chương khác

Xem thêm