Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 23: Thỉnh Kiếm Ở Đền Kiếp Bạc

Muốn giữ Khang qua đêm thứ một trăm, thầy Mùi nói cần một thứ pháp khí đủ mạnh để chém được phần thân quỷ khi nó thò qua ngưỡng trận. Thứ ấy không mua…

Nội dung chương

Muốn giữ Khang qua đêm thứ một trăm, thầy Mùi nói cần một thứ pháp khí đủ mạnh để chém được phần thân quỷ khi nó thò qua ngưỡng trận. Thứ ấy không mua được ở chợ, không xin được ở chùa làng. Phải lên đền Kiếp Bạc, đền thờ Đức Thánh Trần, xin thỉnh một thanh kiếm gỗ đào đã được khắc bùa và gia trì ấn tín. Thầy Mùi từng học nghề ở đó, quen ông từ đền, nhưng lệ thỉnh kiếm không vì quen biết mà nhẹ đi được. Người thỉnh phải thành tâm, phải có lễ, phải chứng minh được nhà mình thật sự có nạn, và quan trọng nhất, phải có tiền lo lệ phí, tiền công khắc kiếm, tiền hương hoa và tiền cúng dường cho đền. Cộng lại là một khoản mà nhà thầy đồ nghèo như nhà Tư có vét sạch cả nhà cũng không đủ một nửa.

Tư về nhà, ngồi tính toán suốt một đêm. Nhà ông còn gì đáng tiền? Mấy gian nhà là nhà tổ chia cho, không bán được. Đồ đạc trong nhà toàn thứ cũ, bán không ai mua. Chỉ còn mảnh ruộng hương hỏa ở cánh đồng dưới, mảnh ruộng cha ông để lại, mỗi năm thu ít thóc hương hỏa lo cúng giỗ tổ tiên. Bán mảnh ruộng ấy đi là bán cả phần đất cuối cùng của chi nhà mình, là việc mà người xưa coi là bất hiếu, là ăn đến cả phần của người chết. Họ hàng biết được sẽ chửi ông là đứa cháu phá gia. Ông Cừ với tư cách trưởng họ chắc chắn sẽ là người chửi đầu tiên và chửi nặng nhất. Nhưng Tư ngồi nhìn đứa con mười mấy ngày tuổi đang ngủ trong buồng, vết bớt đen trên trán nó hiện rõ dưới ánh đèn, rồi ông nhìn ra vườn sau nơi ba nấm mộ con nằm im dưới gốc ổi, và ông biết mình không còn lựa chọn nào tử tế hơn. Ruộng hương hỏa là để thờ người chết. Nhưng nếu giữ ruộng mà mất thêm một đứa con nữa, thì thờ ai, và ai sẽ là người thắp hương cho mảnh ruộng ấy sau này?

Sáng hôm sau, Tư sang nhà ngoại thưa chuyện với bà Sen, rồi về thưa với Mây. Mây nghe chuyện bán ruộng thì khóc, không phải vì tiếc ruộng, mà vì bà biết chồng mình đã phải dằn vặt đến mức nào mới đi đến quyết định ấy. Bà chỉ nói một câu.

- Ruộng là của tổ tiên để lại cho con cháu. Nay bán đi để cứu con cháu, tổ tiên có biết cũng không trách đâu mình ạ. Bán đi. Miễn là giữ được thằng Khang.

Người mua ruộng là một phú hộ ở làng bên, mua nhanh, giá không cao vì biết nhà Tư đang cần tiền gấp, nhưng đủ để lo lệ thỉnh kiếm và còn dư một ít phòng thân cho những tháng ngày sắp tới. Giấy bán ruộng làm ở đình, có lý trưởng đóng triện. Tư cầm xấp giấy bạc trong tay mà tay run, không phải vì tiếc tiền, mà vì ông biết từ giờ nhà mình không còn đường lui nữa. Bán ruộng rồi mà vẫn mất con, ông sẽ mất tất cả, trắng tay theo đúng nghĩa đen.

Đầu tháng bảy, Tư theo thầy Mùi lên đền Kiếp Bạc. Đường xa, hai thầy trò đi bộ phần lớn, có đoạn đi nhờ xe ngựa, có đoạn qua đò. Đền nằm trên một vùng đất cao, nhìn xuống ngã ba sông, cây cổ thụ xòa bóng mát rượi, khói hương từ trong đền tỏa ra thơm mùi trầm và mùi gỗ đào. Tiếng chuông đền ngân trong gió chiều làm lòng người tự nhiên lắng xuống. Tư lần đầu đến một nơi thờ tự lớn như thế, áo the chỉnh tề, đứng trước sân đền mà thấy mình nhỏ bé hẳn. Ông từ đền là một cụ già râu tóc bạc trắng, mắt vẫn tinh anh, nghe thầy Mùi trình bày chuyện nhà Tư thì gật đầu, mời hai người vào gian khách, cho uống nước chè và hỏi rất kỹ về ba lần mất con, về vết bớt, về đêm hẹn một trăm ngày. Hỏi xong, cụ im lặng một lúc lâu, rồi bảo người nhà mang ra một chiếc hòm gỗ dài.

Trong hòm là mấy thanh kiếm gỗ đào chưa khắc bùa, gỗ đào lâu năm, thớ gỗ đỏ sẫm, thơm dịu. Cụ từ chọn một thanh vừa tay, đưa cho thầy Mùi xem trước. Thầy Mùi cầm kiếm, lật qua lật lại, gõ nhẹ vào thân kiếm nghe tiếng, gật đầu bảo gỗ tốt, đào núi già, đúng thứ cần. Lễ thỉnh làm trong ba ngày. Ngày đầu dâng hương trình Thánh, đọc văn khấn kể rõ nạn của nhà Tư. Ngày thứ hai, thợ đền khắc bùa lên thân kiếm, từng nét khắc sâu và đều, mùi gỗ đào cháy nhẹ dưới lưỡi dao khắc thơm đến nao lòng. Ngày thứ ba, kiếm được đặt lên ban thờ chính, gia trì ấn tín, phủ vải đỏ, hương khói suốt một đêm. Tư ăn chay, ngủ ở gian khách của đền, đêm nào cũng mơ thấy tiếng nước sông vỗ và một người đàn bà trẻ đứng xa xa dưới bóng cây, không nhìn rõ mặt, chỉ thấy một chân đi khập khiễng khi người ấy quay đi.

Trong ba ngày ở đền, Tư còn được nghe ông từ kể nhiều chuyện về nghề trừ tà của đền Kiếp Bạc mà trước đây ông chỉ coi là chuyện mê tín dân gian. Cụ từ bảo kiếm gỗ đào không phải cứ thỉnh về là chém được quỷ. Kiếm phải được treo đúng chỗ, đầu giường sản phụ, mũi kiếm hướng về phía cửa quỷ hay đi vào, và người cầm kiếm trong đêm hẹn phải là người thân máu mủ của đứa trẻ, tay không được run đến mức chém bừa ra ngoài ngưỡng trận. Chém sớm một nhịp, quỷ chưa qua ngưỡng, kiếm chỉ chém vào không khí. Chém muộn một nhịp, móng vuốt đã chạm vào đứa trẻ, có chặt được tay quỷ cũng đã muộn. Cụ nói những điều ấy không phải để dọa Tư, mà để ông hiểu rằng đêm trăm ngày không phải đêm của phép màu, mà là đêm của sự chuẩn bị và lòng can đảm, thiếu một trong hai cũng đủ mất con. Tư ghi hết vào một tờ giấy riêng, cất cẩn thận cùng cuốn sổ đếm ngày, coi đó là bài học đầu tiên của lớp việc thứ nhất.

Thầy Mùi trong những ngày ở đền cũng tranh thủ xin thêm cho nhà Tư mấy thứ đi kèm mà ông biết sẽ cần: một ít mực chu sa thật để vẽ trận đồ bát quái, một cuộn chỉ đỏ đã được trì chú để kết lưới, và một lá bùa gỗ dâu nhỏ treo ở cổ tay người mẹ trong đêm hẹn. Ông bảo những thứ này đền cho thỉnh kèm kiếm, không phải mua bán, nhưng người nhận phải nhớ ơn đền và sau này việc xong phải lên tạ lễ đàng hoàng. Tư chắp tay cảm ơn, trong lòng càng thêm nặng vì ân nghĩa phải trả ngày càng nhiều, trong khi việc chính còn chưa đâu vào đâu. Ông cũng tranh thủ những lúc rảnh ở gian khách mà viết thư về nhà, nhờ người đi chợ huyện gửi về Hạ Trạch, báo cho Mây biết việc thỉnh kiếm thuận lợi, dặn bà giữ gìn sức khỏe, giữ cung vôi nguyên vẹn và tuyệt đối không cho người nhà tổ vào buồng thăm con trong những ngày ông vắng nhà, dù họ có nói lời ngon ngọt đến đâu. Ông viết thư ngắn mà tay cứ dừng lại giữa dòng, vì ông biết ở nhà, vợ con ông đang ở giữa vòng vây của họ hàng, còn ông thì ở xa, chỉ có thể dặn dò qua mấy dòng chữ vô lực.

Đêm cuối ở đền, Tư không ngủ được. Ông ra sân đền ngồi đến gần sáng, nhìn trăng treo trên ngã ba sông, nghe tiếng nước chảy và tiếng chuông gió khẽ rung trên mái đền. Ông nghĩ về mảnh ruộng hương hỏa vừa bán, về người cha đã mất, về ba đứa con nằm dưới gốc ổi, và về lời dặn của cha trong cơn say năm xưa mà giờ ông mới hiểu hết. Ông tự hỏi nếu cha ông còn sống, cha sẽ làm gì trước món nợ này. Có lẽ cha cũng bán ruộng. Có lẽ cha cũng lên đền. Có lẽ cha cũng đã từng định làm tất cả những việc này mà không dám, hoặc không kịp, để rồi chỉ còn lại năm chữ nguệch ngoạc trong cuốn sổ chép tay. Tư không trách cha. Ông chỉ thấy thương cha, và thương chính mình, hai thế hệ đàn ông trong một dòng họ cùng đứng trước cùng một món nợ, một người để lại lời dặn, một người phải đi trả thay cho cả những đời trước mình.

Ngày ra về, ông từ đền tự tay trao kiếm cho Tư. Kiếm đã được bọc trong vải đỏ, nặng hơn Tư tưởng, cầm vào có cảm giác ấm ấm lạ thường dù gỗ đào vốn mát. Cụ từ nắm tay Tư, dặn một câu mà giọng cụ rất nghiêm, nghiêm hơn mọi lời dặn trong ba ngày qua, đến mức Tư ghi nhớ từng chữ và sau này chép lại nguyên văn vào sổ.

- Kiếm này chém được quỷ, không chém được nợ. Anh mang nó về, đêm trăm ngày cứ dùng nó mà giữ con. Nhưng anh nhớ cho kỹ, kiếm chặt được tay quỷ chứ không chặt được oán của người ta. Nhà anh muốn yên hẳn, phải tự mình trả nợ cho người ta, chứ đừng trông vào thanh kiếm này mà xong chuyện.

Tư cúi đầu vâng dạ, ôm kiếm vào ngực như ôm một đứa trẻ khác cần được giữ. Trên đường về Hạ Trạch, thầy Mùi đi bên cạnh, thỉnh thoảng lại liếc nhìn bọc vải đỏ trên vai Tư, rồi nói khẽ, như nói cho chính mình nghe.

- Có kiếm rồi, lớp việc thứ nhất coi như có khí giới trong tay người cha này rồi. Từ nay anh phải dồn sức vào lớp việc thứ hai. Tìm người. Tìm cho ra người đàn bà chết giếng ấy là ai, tên gì, chết năm nào, vì sao chết. Không tìm ra, đêm trăm ngày thắng được một trận, sáng hôm sau nhà anh vẫn thua cả cuộc chiến.

Chương khác

Xem thêm