Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 22: Tám Mươi Tư Ngày

Sau hôm xem nhà, thầy Mùi ở lại nhà Tư thêm một ngày nữa để giảng cho cả nhà nghe luật của thứ đang rình rập Khang. Ông giảng vào buổi tối, khi cửa nẻo…

Nội dung chương

Sau hôm xem nhà, thầy Mùi ở lại nhà Tư thêm một ngày nữa để giảng cho cả nhà nghe luật của thứ đang rình rập Khang. Ông giảng vào buổi tối, khi cửa nẻo đã đóng kín, đèn dầu để giữa gian nhà, mọi người ngồi quanh: Tư, Mây bế con, bà Sen và bà Lựu. Ông không giảng bằng giọng dọa nạt như những thầy cúng làng vẫn làm để lấy tiền lễ. Ông giảng chậm, rõ, như thầy đồ giảng sách, điều nào chắc ông nói chắc, điều nào nghề truyền lại ông nói nghề truyền lại, điều nào ông chưa biết ông nói thẳng là chưa biết. Chính sự thẳng thắn ấy làm cả nhà tin ông hơn bất cứ lời hứa hẹn hoa mỹ nào.

- Thứ nhất, thầy Mùi nói, giơ một ngón tay lên. Mẹ Ranh chỉ lấy được mạng trẻ họ Ngô vào đúng một đêm duy nhất, đêm trẻ tròn một trăm ngày tuổi, không sớm hơn, không muộn hơn một ngày. Ngoài đêm ấy, nó chỉ quấy phá được thôi: làm tiếng chân trên mái, làm tiếng cười ngoài hiên, làm trẻ khóc đêm, nếm dần sinh khí làm trẻ sốt nhẹ, mệt mỏi. Nó nếm được, mà không đoạt được. Các anh chị nghe rõ chưa? Từ nay đến đêm thứ một trăm, đứa bé có sốt nhẹ, có khóc đêm, có giật mình, cũng đừng hoảng đến mất vía. Nó đang nếm, đang thử, đang dọa cho nhà mình kiệt sức trước ngày hẹn. Càng hoảng, càng kiệt sức, đến đêm hẹn thật sự lại càng không còn sức mà giữ con.

- Thứ hai, ông giơ ngón tay thứ hai. Nó chỉ lấy được mạng trong phạm vi đất nhà của dòng họ. Ra khỏi đất nhà họ Ngô, tay nó ngắn lại, không với tới được. Đó là lý do ba đứa trước, đứa nào cũng chết trong nhà, trong đất nhà mình. Đó cũng là lý do ngày xưa thằng Bình chết trên tay anh Tư ngay trước cổng nhà tổ, vẫn trong đất họ, vẫn không thoát. Đừng tưởng bế con chạy ra đường là thoát. Phải chạy ra khỏi đất họ và phải qua được đúng đêm hẹn, hai điều cùng lúc, mới mong thoát. Mà chạy đi đâu? Họ Ngô ở Hạ Trạch này đất đai liền thổ mấy đời, nhà ngoại nhà nội đều có phần đất họ trong ấy cả. Tôi nói thế để anh chị hiểu, trốn không phải là cách. Trốn chỉ dời được một đêm, nợ vẫn còn nguyên, nó vẫn theo dấu trên trán đứa bé mà tìm đến ở lần sau, ở đời sau.

Mây nghe đến đó thì ôm con chặt hơn, khẽ hỏi.

- Vậy thì phải làm sao hả thầy? Không trốn được, không đánh được, cứ ngồi đếm ngày chờ nó đến lấy con tôi sao?

- Không, thầy Mùi lắc đầu. Có hai lớp việc phải làm, làm cùng lúc, như hai tay cùng giữ một đứa trẻ sắp ngã xuống giếng. Lớp thứ nhất là giữ mạng qua đêm thứ một trăm. Đêm ấy là đêm hẹn, là trận cuối của nó. Nếu giữ được đứa bé sống qua hết đêm ấy, sáng ra mặt trời lên mà nó còn thở, thì hẹn cũ vỡ, nó không lấy lại được lần hai trong cùng một đời này nữa. Muốn giữ được, phải có trận, có kiếm, có người thức canh đúng cách, tôi sẽ bày sau. Lớp thứ hai, khó hơn, lâu hơn, là tìm ra chủ nợ thật sự và trả nợ cho xong. Vì giữ được một đêm mà nợ chưa trả, thì nó vẫn quanh quẩn trong đất nhà này, đời con anh chị qua đi, đời cháu chắt lại đến lượt. Các anh chị muốn con mình sống yên ổn cả đời, muốn cháu mình không phải đếm ngày như mình bây giờ, thì phải làm cho xong lớp thứ hai.

Tư ngồi ghi chép vào sổ, ghi cả hai lớp việc, ghi cả luật đêm hẹn và đất họ, nét chữ nắn nót như chép sách thánh hiền. Ghi xong, ông hỏi điều ông thắc mắc từ hôm thầy Mùi mới đến.

- Thưa thầy, sao nó phải đợi đúng ngày thứ một trăm? Sao không lấy ngay từ lúc mới sinh, lúc đứa bé còn yếu nhất?

Thầy Mùi gật đầu, như khen câu hỏi trúng.

- Vì nghiệp con lộn nó có lệ của nó. Trăm ngày là mốc đứa trẻ được coi là chắc chân trong cõi người, là lúc tên tuổi nó gần như đã ghi vào sổ làng, sổ họ. Lấy nó trước mốc ấy thì chỉ là một cái chết yểu thường, cha mẹ đau một lúc rồi nguôi. Lấy đúng ngày đầy cữ, ngày cả nhà đang mừng, đang bày cỗ, đang tin là con mình đã qua được hạn, thì nỗi đau mới sâu đến tận xương tủy. Kẻ đòi nợ nhà anh chị không chỉ muốn lấy mạng. Nó muốn nhà họ Ngô đau đúng như nó đã từng đau. Nó muốn người ta nhớ đến nó, dù nhớ bằng nỗi sợ. Anh chị hiểu chưa? Đằng sau luật trăm ngày là một ý chí của người chết, không phải lệ trời đất vô tri đâu.

Câu ấy làm cả gian nhà lặng đi một lúc dài. Bà Sen chắp tay niệm Phật. Bà Lựu thở dài bảo thảo nào ba lần đều mừng cỗ đầy cữ chưa kịp dọn thì con đã đi. Tư thì cúi đầu nhìn cuốn sổ trên tay. Ông lật lại những trang đầu, đếm từng ngày đã ghi: ngày thứ nhất mồng chín tháng sáu, ngày thứ hai, ngày thứ ba, cho đến hôm nay. Hôm nay Khang được mười sáu ngày tuổi. Ông lấy bút, viết xuống cuối trang một phép tính đơn giản mà tay ông run lên khi viết đến con số cuối cùng. Một trăm trừ mười sáu. Còn tám mươi tư ngày.

Tám mươi tư ngày. Con số ấy vừa là hy vọng vừa là án treo. Tám mươi tư ngày để thỉnh kiếm, để tìm chủ nợ, để thuyết phục những người già trong họ chịu mở miệng, để chuẩn bị một trận pháp mà ông chưa biết mặt mũi ra sao. Và cũng là tám mươi tư ngày sống trong tiếng chân trên mái, trong những cơn sốt nhẹ bất chợt của con, trong ánh mắt xa lánh dần của dân làng và sức ép ngày càng nặng của ông trưởng họ khi biết tin thầy pháp đã vào nhà thầy đồ. Tư viết con số ấy to hơn mọi con số khác trong sổ, khoanh tròn lại, rồi nói với cả nhà, giọng ông bình tĩnh một cách lạ lùng, bình tĩnh của người đã nhìn rõ con đường hun hút trước mặt mà không còn đường lui nào khác.

- Còn tám mươi tư ngày. Từ mai, tôi bắt đầu làm cả hai lớp việc cùng lúc. Thầy Mùi lo phần trận và kiếm. Tôi lo phần tìm người. Tám mươi tư ngày, ngày nào cũng phải có việc xong, không được để trống một ngày nào như hai năm vừa rồi nữa.

Ngay trong buổi giảng luật ấy, Tư còn hỏi thầy về những dấu hiệu sẽ đến trong những ngày sắp tới để cả nhà chuẩn bị tinh thần, không bị bất ngờ làm cho hoảng loạn. Thầy Mùi liệt kê rành rọt như người đã trải qua nhiều ca như thế này. Đầu tiên là tiếng chân sẽ đều hơn, gần như đêm nào cũng có, nhất là những đêm không trăng. Rồi đến tiếng trẻ khóc vọng lại từ hướng nhà tổ vào đúng giờ Tý, nghe như tiếng Khang khóc mà Khang vẫn đang ngủ yên trong buồng. Rồi mùi bùn tanh và mùi hương lạnh thoang thoảng trong buồng đẻ vào những hôm trời nồm. Rồi những cơn sốt nhẹ không rõ cớ của đứa bé, đến nhanh đi nhanh, mỗi lần như một lần nó nếm thử sinh khí xem đứa trẻ còn khỏe đến đâu. Thầy dặn cả nhà phải ghi lại hết vào sổ, ngày nào, giờ nào, dấu hiệu gì, kéo dài bao lâu. Ghi chép không phải để làm bùa, mà để đến đêm hẹn, thầy nhìn lại sổ là biết được thói quen và đường đi của nó, biết nó sẽ vào nhà bằng hướng nào, vào giờ nào, và yếu nhất ở khoảnh khắc nào. Tư nghe mà gật đầu liên tục. Lần đầu tiên, nỗi sợ mơ hồ trong nhà ông được biến thành những gạch đầu dòng rõ ràng, thành việc phải làm, thành sổ sách phải ghi. Với một thầy đồ, không gì làm ông vững tâm bằng việc biến ma quỷ thành một thứ có thể ghi lại, đếm được và tính trước được, dù chỉ tính trước được một phần.

Bà Lựu nghe giảng xong thì xin nói thêm một điều bà giữ kín từ lâu. Bà bảo lần Cát chết, khi bà lau người cho nó lần cuối, bà cũng thấy trên cổ nó có vết mờ như An, chỉ là mờ hơn, bà không dám nói vì sợ nhà Tư thêm đau. Nay nghe thầy giảng luật trăm ngày và đất họ, bà mới dám nói ra cho trọn. Thầy Mùi nghe xong chỉ gật đầu, bảo những vết ấy là dấu tay nó để lại mỗi lần đến lấy, mờ hay rõ tùy sức nó mạnh yếu từng đời, từng lần. Tư ghi cả lời bà Lựu vào sổ, ghi ngày tháng rõ ràng, coi đó là chứng cứ thứ hai sau vết bớt trên trán Khang. Ông bắt đầu hiểu rằng cuộc điều tra này cần nhân chứng và ghi chép không kém gì một vụ án ngoài đời, và ông, một thầy đồ nghèo, sẽ phải làm công việc ấy một mình, chống lại cả một dòng họ muốn chôn chặt sự thật.

Đêm ấy, thầy Mùi trải chiếu ngủ ở gian giữa nhà Tư, thanh gỗ đào đặt ngay đầu chiếu. Trước khi ngủ, ông còn dặn thêm một điều sau cùng, dặn rất khẽ mà ai nghe cũng nhớ đến thuộc lòng: trong tám mươi tư ngày này, hễ Khang sốt nhẹ thì cứ chăm như trẻ sốt thường, đừng mở cửa chạy đi gọi thầy lang giữa đêm, đừng bế con ra khỏi nhà sau giờ Hợi, và dù nghe tiếng ai gọi ngoài cửa giống hệt giọng người thân đến đâu cũng không được mở, không được đáp. Tư gật đầu ghi nhớ. Ông ra hiên, nhìn lên mái ngói đen sẫm dưới trời không trăng, và lần đầu tiên sau nhiều năm, ông cảm thấy chiếc đồng hồ đếm ngược trong đầu mình không còn gõ một cách vô vọng nữa. Nó vẫn gõ, từng nhịp một, tám mươi tư, tám mươi ba, tám mươi hai, nhưng bây giờ mỗi nhịp gõ đều có một việc đang chờ ông làm ở nhịp tiếp theo.

Chương khác

Xem thêm