Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 17: Phiến Đá Mới Trên Miệng Giếng
Tư chọn một buổi sáng tháng tư, trời còn mát, để lên nhà tổ hỏi chuyện ông Cừ. Ông mặc chiếc áo the đen đã sờn cổ, đội khăn xếp ngay ngắn, tay cầm theo…
Nội dung chương
Tư chọn một buổi sáng tháng tư, trời còn mát, để lên nhà tổ hỏi chuyện ông Cừ. Ông mặc chiếc áo the đen đã sờn cổ, đội khăn xếp ngay ngắn, tay cầm theo cuốn gia phả chép tay của cha. Ông đi qua con đường làng ven đê, qua đình, qua những rặng tre đang ra măng, lòng dạ rối như tơ vò. Nhà tổ họ Ngô nằm ở đầu xóm trên, nền đất cao hơn mặt đường cả thước, cổng gạch xây từ thời cụ cố nội, hai cánh cửa gỗ lim đen bóng, then cài bên trong. Tư đứng ngoài gọi ba tiếng mới có người ra mở. Người mở cổng là thằng cháu họ ở nhờ trông nhà, thấy thầy đồ thì lễ phép mời vào sân, nhưng vừa nghe Tư nói muốn gặp ông trưởng họ để hỏi chuyện cũ trong nhà, mặt nó đã biến sắc, bảo để nó vào thưa lại.
Tư đợi rất lâu giữa sân. Sân nhà tổ lát gạch Bát Tràng đỏ au, chính giữa là cây cau cao và bể nước mưa phủ rêu xanh. Gian nhà chính năm gian lợp ngói mũi, cột lim đen nhánh, hoành phi câu đối sơn son thếp vàng đã bong tróc nhiều chỗ. Tư nhìn quanh, cố tìm cái giếng sau mà ông từng mơ thấy. Từ sân trước không thấy giếng, chỉ thấy một lối nhỏ dẫn ra vườn sau, có hàng rào dâm bụt cắt tỉa gọn gàng chắn ngang. Mùi hương trầm từ trong nhà thoang thoảng bay ra, lẫn mùi ẩm mốc của gỗ cũ và mùi vôi mới quét đâu đó sau vườn.
Ông Cừ ra sau cùng. Ông sáu mươi lăm tuổi, người gầy mà cứng, lưng thẳng, râu thưa bạc trắng, đôi mắt nhỏ và sâu, nhìn ai cũng như cân đo. Ông mặc áo gấm lam, tay lần tràng hạt gỗ, bước đi khoan thai ra hiên, không mời Tư vào nhà, chỉ chỉ chiếc ghế đẩu ngoài thềm.
- Chú Tư lên có việc gì? Giọng ông Cừ khô và đều. Nghe nói chú đóng lớp học rồi. Việc họ có gì mà chú phải lên tận đây?
Tư ngồi xuống ghế đẩu, thấp hơn ông Cừ cả một bậc thềm. Ông đặt cuốn gia phả lên đầu gối, lựa lời rất cẩn thận.
- Thưa bác, vợ cháu lại có mang. Lần thứ tư rồi. Ba lần trước cháu mất con cùng một ngày, cùng một cách, bác đều biết. Cháu lên đây không phải để trách móc gì. Cháu chỉ muốn hỏi bác một chuyện cũ. Người làng già kể rằng nhà tổ ta ngày xưa có một người đàn bà chết giếng. Cháu mơ thấy chuyện ấy từ ngày mất thằng An. Cha cháu trước khi mất cũng viết trong sổ là nợ nhà này chưa trả. Bác nắm gia phả, nắm nhà tổ, bác có biết người đàn bà ấy là ai không?
Sân nhà tổ bỗng im phăng phắc. Tràng hạt trên tay ông Cừ ngừng lần. Ông nhìn Tư chằm chằm, cái nhìn lạnh dần, rồi ông cười nhạt, một cái cười không có chút ấm áp nào.
- Chú nghe ai nói bậy? Ông Từ đình phải không? Già rồi lẩm cẩm, chuyện không có cũng dựng lên. Nhà tổ họ Ngô đời đời thanh sạch, làm gì có đàn bà nào chết giếng. Giếng sau nhà này là giếng ăn, nước trong quanh năm, tổ tiên để lại. Chú mất con thì đi tìm thầy lang, tìm thầy cúng tử tế, đừng nghe chuyện ma quỷ rồi bôi nhọ cả dòng họ.
- Nhưng trang gia phả về cụ cố nội bị xé mất, Tư nói, tay mở cuốn sổ ra đúng chỗ giấy rách. Cha cháu không tự xé sổ của mình. Bác xem, vết xé còn đây.
Ông Cừ liếc xuống cuốn sổ một cái rất nhanh rồi quay mặt đi.
- Sổ sách cũ, chuột gặm, ẩm mốc, rách nát là thường. Chú là thầy đồ mà suy diễn như đàn bà. Tôi nói lần cuối, không có người đàn bà nào chết giếng ở nhà này hết. Chú về đi. Việc vợ chú sinh nở, họ sẽ cử người sang giúp theo lệ. Còn chuyện đào bới đời trước, chú bỏ ngay ý nghĩ ấy đi. Đất nhà tổ không phải chỗ cho chú bén mảng tới mà hỏi han lung tung.
- Bác, cháu chỉ xin bác cho cháu ra xem cái giếng sau một lần thôi, Tư hạ giọng gần như van nài. Cháu đứng xa nhìn cũng được. Nếu không có gì, cháu về ngay, từ nay không hỏi nữa.
Câu ấy làm mặt ông Cừ sầm hẳn xuống. Ông đứng bật dậy, tràng hạt quấn chặt vào cổ tay, giọng cao lên, the thé.
- Không được! Giếng nhà tổ là chỗ thờ cúng, chỗ lấy nước cúng giỗ, không phải ai muốn xem cũng xem. Chú đừng cậy là thầy đồ biết chữ mà hỗn. Tôi là trưởng họ, tôi cấm. Từ nay chú không được bén mảng đến vườn sau nhà tổ nữa. Nghe rõ chưa? Về!
Người cháu họ đứng nép bên cột nhà cúi gằm mặt, không dám thở mạnh. Tư biết có nói thêm cũng vô ích. Ông đứng dậy, cuốn gia phả ôm vào ngực, cúi chào ông Cừ một cái rất thấp rồi quay ra cổng. Đi được vài bước, ông nghe sau lưng tiếng ông Cừ dặn người cháu họ, giọng không hề hạ thấp, như cố ý để Tư nghe thấy.
- Từ mai, rào kỹ lối ra vườn sau. Ai hỏi chuyện giếng, bảo không biết. Đứa nào lắm mồm, đuổi khỏi nhà tổ.
Tư bước xuống thềm, chân nặng như đeo đá. Trước khi ra cổng, ông còn ngoái lại nhìn gian nhà chính một lần. Trên bàn thờ họ trong nhà, qua khe cửa hé, ông thấy bát hương lớn khói bay nghi ngút, hai bên là những bài vị gỗ sơn đen xếp thành hàng ngay ngắn. Ông tự hỏi trong hàng bài vị ấy, có bao nhiêu cái tên được thờ, bao nhiêu cái tên bị thiếu, và người đàn bà chết giếng kia, nếu thật sự từng là người nhà này, thì tên của bà đang ở đâu. Không ở trên bàn thờ. Không ở trong gia phả, vì trang của bà đã bị xé. Không ở ngoài nghĩa trang dòng họ, vì bà bị chôn vội ở bãi tha ma. Một con người sống mười chín năm trên đời, làm vợ người ta, mang thai con của người ta, mà khi chết đi lại không còn lại một chỗ nào để đặt tên xuống. Nghĩ đến đó, Tư thấy lạnh hơn cả lúc bị ông Cừ quát mắng. Ông hiểu vì sao cha ông viết chữ nợ. Nợ không chỉ là một cái chết. Nợ là một cái tên bị xóa, một nấm mồ bị giấu, một miệng giếng bị bịt. Và những thứ bị giấu càng lâu, mùi của chúng càng không giấu nổi, cứ đến đời con đời cháu là tự khắc bốc lên.
Ông cũng nhớ rõ một chi tiết nhỏ trong lúc ngồi ở thềm nhà tổ. Khi ông nhắc đến hai chữ chết giếng, trước khi ông Cừ kịp cười nhạt và phủ nhận, bàn tay lần tràng hạt của ông đã khựng lại đúng một nhịp, và sắc mặt ông đổi đi trong thoáng chốc rất ngắn, ngắn đến mức nếu Tư không nhìn thẳng vào mặt bác mình thì đã không nhận ra. Đó không phải là vẻ mặt của người nghe chuyện bịa. Đó là vẻ mặt của người nghe đúng chuyện mình đã chôn giấu mấy chục năm bỗng bị kẻ khác đào lên đặt trước mặt. Tư là thầy đồ, cả đời ông đọc mặt chữ và cũng đọc mặt người. Ông tin vào cái khựng tay ấy hơn mọi lời phủ nhận sau đó. Ông Cừ biết. Ông Cừ biết rõ người đàn bà ấy là ai, chết thế nào, và vì sao phải bịt giếng lại. Chỉ là ông không chịu nói, và chừng nào ông còn là trưởng họ, chừng đó nhà tổ còn là một cái rương khóa chặt mà Tư không có chìa.
Ra khỏi cổng, Tư không về thẳng nhà. Ông đi vòng ra con ngõ nhỏ chạy sát tường sau nhà tổ, nơi ngày thường đám trẻ con vẫn chăn trâu qua lại. Tường sau cao, rêu phủ đến nửa, nhưng ở một đoạn tường thấp gần bụi chuối, ông ghé mắt qua được một khe hở giữa hai viên gạch vỡ. Qua khe hở ấy, ông nhìn thấy vườn sau nhà tổ: một khoảnh đất rộng, cỏ mọc um tùm, mấy cây vải già xòa bóng, và ở góc vườn gần gian bếp cũ, có một miệng giếng xây bằng gạch vồ, thành giếng thấp, rêu đen bám quanh. Điều làm Tư đứng chết lặng không phải là cái giếng. Điều làm ông chết lặng là trên miệng giếng ấy, một phiến đá xanh lớn vừa được đặt lên, đá còn mới nguyên, mặt đá chưa kịp bám rêu, các cạnh còn sắc, vệt vôi trắng quét quanh mép đá còn chưa khô hẳn, trắng nổi bật giữa nền đất ẩm tối màu. Phiến đá nặng đến mức phải bốn người khiêng mới đặt nổi, và nó vừa mới được đặt, mới trong những ngày gần đây, có khi mới từ hôm qua, hôm kia, đúng vào lúc tin Mây mang thai lần thứ tư bắt đầu rò rỉ ra ngoài làng.
Tư lùi lại, lưng dựa vào tường, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Nếu giếng chỉ là giếng ăn bình thường như ông Cừ nói, việc gì phải đậy đá mới? Việc gì phải đậy ngay lúc này, sau mấy chục năm để hở? Ông nhớ lại lời ông Từ đình, nhớ giấc mơ người đàn bà đứng dưới giếng khóc, nhớ dòng chữ của cha, nợ nhà này chưa trả. Tất cả những mảnh rời rạc ấy, trong buổi sáng hôm nay, lần đầu tiên khớp lại thành một hình thù rõ rệt: có một người đàn bà đã chết ở cái giếng kia, và có người trong họ này đang ra sức bịt kín sự thật ấy, bịt bằng cả một phiến đá.
Ông đi về nhà trong nắng trưa gay gắt mà người lạnh ngắt. Về đến sân, Mây đang ngồi nhặt rau dưới gốc ổi, bà Sen sắc thuốc trong bếp, khói bếp cay xè mắt. Mây ngước lên thấy sắc mặt chồng thì đặt rổ rau xuống, hỏi dồn.
- Bác Cừ nói sao, mình?
Tư ngồi xuống bên vợ, nhìn ba nấm mộ nhỏ dưới gốc ổi, rồi nói từng chữ một, chậm và rõ, như sợ nói nhanh sẽ làm vỡ mất điều mình vừa nhìn thấy.
- Bác ấy bảo không có ai chết giếng cả. Bác ấy đuổi tôi về, cấm tôi bén mảng ra vườn sau nhà tổ.
Ông ngừng lại một lát, rồi hạ giọng xuống rất thấp.
- Nhưng trên đường về, tôi nhìn qua khe tường sau. Cái giếng ở góc vườn nhà tổ vừa bị người ta đậy một phiến đá mới toanh, vôi còn chưa khô. Mây à, người ta chỉ bịt miệng giếng khi trong giếng có thứ cần bịt kín mà thôi.