Con Lộn Ngày Thứ 100 - Chương 16: Thai Lần Thứ Tư

Hai năm sau ngày chôn Cát, nhà thầy đồ Tư vẫn im như nhà không người. Lớp học thưa dần rồi vắng hẳn, chỉ còn dăm đứa trẻ con nhà nghèo quanh xóm mang…

Nội dung chương

Hai năm sau ngày chôn Cát, nhà thầy đồ Tư vẫn im như nhà không người. Lớp học thưa dần rồi vắng hẳn, chỉ còn dăm đứa trẻ con nhà nghèo quanh xóm mang sách đến học lỏm ngoài hiên, học được chữ nào hay chữ ấy, Tư cũng không nỡ đuổi. Ông ngồi cả buổi chiều bên án thư, mài mực rồi lại để mực khô, cuốn gia phả chép tay của cha để ngay ngắn trên mặt bàn mà không mở. Mây thì gầy đi trông thấy. Người đàn bà ba mươi chín tuổi, ba lần cạn thai cạn sữa, lưng còng xuống như người đã qua tuổi năm mươi. Bà đi lại trong nhà rất khẽ, như sợ làm động đến một thứ gì đang ngủ. Ba nấm mộ nhỏ dưới gốc ổi sau vườn, bà ra quét lá mỗi sáng, quét xong lại ngồi một lúc lâu, tay đặt lên mặt đất mát lạnh, không khóc nữa. Nỗi đau khi đã qua hai năm không còn thành tiếng, nó thành thói quen, thành cái cách người ta cúi đầu thấp hơn một chút mỗi khi đi qua vườn sau.

Tháng ba năm ấy, Mây bắt đầu nôn khan vào buổi sớm. Ban đầu bà giấu chồng, chỉ nói là trúng gió, là dạ dày yếu. Đến khi bà đỡ Hai Lựu sang nhà xin ít lá ngải cứu, nhìn sắc mặt bà, sờ cổ tay bà, rồi nắm lấy bàn tay lạnh ngắt ấy mà nói nhỏ, Mây mới khóc. Bà Lựu bảo cái thai đã được hơn sáu tháng. Tin ấy không làm nhà sáng lên. Nó làm cả hai vợ chồng ngồi lặng đi rất lâu bên mâm cơm chiều. Tư nhìn sang vườn sau, nơi gốc ổi đã ra lộc non xanh mướt. Ba nấm mộ nằm im dưới tán lá. Ông nghĩ đến ba cái tên, ba ngày tháng, ba lần ông bế con chạy trong đêm mà không kịp. Ông nghĩ đến con số một trăm, con số đã thành cái thòng lọng treo sẵn trong nhà này, chỉ chờ đứa trẻ nào ló đầu ra là thít lại.

- Mình tính sao? Mây hỏi, giọng rất nhỏ.

Tư không đáp ngay. Ông biết tính sao cũng là liều. Bỏ thai thì giết con, giữ thai thì như dắt con vào cái hạn đã lấy đi ba đứa trước. Ông là thầy đồ, cả đời dạy người ta chữ nhân chữ nghĩa, vậy mà trước sinh linh chưa thành hình trong bụng vợ, ông không tìm được một chữ nào cho mình. Đêm ấy ông ra đình làng, ngồi ở bậc thềm đá cho đến khi sương xuống ướt vai áo. Ông Từ đình đi khóa cửa gian chính, thấy ông ngồi đó thì dừng lại, chống gậy nhìn.

- Thầy đồ chưa về à? Đêm sương độc lắm.

- Tôi ngồi một lát, Tư nói. Trong nhà bí quá.

Ông Từ ngồi xuống cạnh ông, hai ông già im lặng nghe tiếng dế kêu dưới chân cột đình và tiếng nước sông Đáy vỗ vào chân đê xa xa. Mãi sau, ông Từ mới chậm rãi nói, như nói với chính mình.

- Nhà thầy dạo này nhiều chuyện. Tôi giữ đình ngần ấy năm, chuyện làng chuyện họ nghe cũng đủ. Có những nhà bề ngoài yên ấm mà trong nền đất còn nợ nần từ mấy đời trước chưa trả. Nợ tiền bạc thì dễ, nợ người thì khó lắm, thầy ạ.

Tư quay sang nhìn ông. Ông Từ không nhìn lại, mắt vẫn hướng về phía bóng tối ngoài sân đình.

- Cụ nói nợ người là sao?

- Thì là người chết oan mà tên tuổi bị xóa, mồ mả không ai hương khói. Người ta bảo nhà tổ họ Ngô nhà thầy ngày xưa bề thế lắm. Cụ cố nội nhà thầy, cụ Hoành ấy, lấy đến hai vợ. Người vợ lẽ nghe đâu trẻ lắm, mười tám mười chín tuổi, người làng bên kia sông. Sau này không thấy mặt nữa. Người làng già kể là chết giếng.

Tim Tư đập mạnh một nhịp. Ông đã mơ thấy người đàn bà đứng dưới giếng sau nhà tổ khóc, ngay sau đám tang An. Giấc mơ ấy ông chưa kể trọn vẹn cho ai, kể cả Mây. Nay ông Từ nhắc đến hai chữ chết giếng nhẹ như nhắc chuyện thời tiết, mà sống lưng Tư lạnh toát.

- Chết giếng nào, cụ? Giếng nhà tổ sao?

Ông Từ lúc ấy mới như sực tỉnh. Ông ho khan, chống gậy đứng dậy, lắc đầu lia lịa.

- Tôi già rồi, nghe người ta kể lại, biết đâu đúng đâu sai. Chuyện họ Ngô thì thầy cứ hỏi trưởng họ ấy. Ông Cừ nắm nhà tổ, nắm gia phả, ông ấy biết hết. Tôi chỉ là người giữ đình, trông đèn nhang, không dám nói bừa chuyện nhà người ta.

Rồi ông lảng đi thật nhanh, bước chân vào trong đình, cài then cửa, để lại Tư ngồi một mình với câu nói lửng lơ. Hỏi trưởng họ ấy. Bốn chữ ấy Tư nghe mà như nghe một lời từ chối được gói ghém tử tế. Ai trong làng cũng biết ông Cừ ghét nhất kẻ nào khơi lại chuyện cũ của nhà tổ. Ngày Bình chết trên tay Tư ngay trước cổng nhà tổ, chính ông Cừ đã đóng sầm cánh cổng lại. Người đàn ông ấy giữ nhà tổ như giữ một cái rương khóa kín, và Tư linh cảm cái thai lần thứ tư này, một khi lộ ra, sẽ động đến đúng cái ổ khóa ấy.

Về đến nhà, Mây vẫn thức, ngồi vá áo dưới đèn dầu. Tư kể lại lời ông Từ, kể cả đoạn chết giếng. Mây nghe xong, tay cầm kim khựng lại giữa đường chỉ.

- Người đàn bà chết giếng, bà lẩm bẩm. Mình à, ba đứa nhà mình đi cùng một cách, cùng một ngày. Bà Lựu bảo không phải bệnh. Cha mình trước khi mất lại viết nợ nhà này chưa trả. Hay là cái nợ ấy chính là người đàn bà này?

- Tôi chưa biết, Tư nói. Nhưng từ mai, tôi đóng lớp học hẳn. Tôi ở nhà với mình và đứa nhỏ. Chuyện nhà tổ, tôi sẽ tự đi hỏi cho ra.

Quyết định đóng lớp học làm xóm giềng xì xào mấy hôm. Thầy đồ Tư bỏ dạy, người thì thương, người thì bảo nhà ấy có ma ám nên thầy mới thất thần. Tư mặc kệ. Ông dọn án thư vào buồng trong, lấy chiếu cũ che lại, rồi bắt đầu một việc mà ông chưa từng làm trong hai năm qua: ông mở cuốn gia phả của cha ra đọc lại từ đầu. Trang bị xé mất vẫn trống trơ ở đúng phần chép về cụ cố nội. Ông lật đi lật lại, sờ mép giấy rách đã vàng, cố nhớ xem hồi cha còn sống có lần nào cha nhắc đến một người đàn bà trẻ trong nhà tổ hay không. Cha ông chỉ có một lần say rượu, nắm tay ông mà dặn, nhà mình có một món nợ không phải bằng tiền, sau này nếu con cháu có bề gì thì đừng chỉ cúng bái, phải tìm người mà trả. Lúc ấy Tư còn trẻ, ngỡ cha nói chuyện vay mượn ruộng đất. Giờ ngồi trước trang giấy bị xé, ông mới thấy câu dặn ấy nặng như đá.

Những ngày sau, Mây ốm nghén dữ, ăn vào lại nôn ra, người chỉ còn da bọc xương. Bà Sen từ nhà ngoại sang ở hẳn, ngày đêm sắc thuốc, nấu cháo, và lặng lẽ vẽ lại Trận Cung Vôi ở ngưỡng cửa buồng như lần sinh đầu cách đây năm năm. Bà vẽ rất chậm, tay run, miệng lẩm nhẩm. Vẽ xong, bà ngồi bệt xuống đất nhìn cây cung bằng vôi trắng chĩa ra cổng mà thở dài.

- Lần nào tôi cũng vẽ, bà nói. Mà lần nào cũng không ăn thua. Hay là cái cần bắn không ở ngoài cổng, mà ở ngay trong đất nhà này rồi.

Tư không nói gì. Ông ra vườn sau, đứng trước ba nấm mộ con mà thắp hương. Khói hương bay là là qua tán ổi. Ông khấn rất khẽ, khấn với ba đứa con đã mất, rằng nếu đứa em này có về thật, xin chúng nó đừng giận, rằng cha mẹ không quên đứa nào, rằng lần này cha sẽ không ngồi yên nhìn hạn đến nữa. Khấn xong, ông quay vào, lấy giấy dó và bút lông, viết lên đầu một tờ giấy mới bốn chữ ngay ngắn: Đếm từ hôm nay. Ông không biết mình đếm đến cái gì. Ông chỉ biết từ ngày biết Mây có thai lần thứ tư, trong đầu ông đã có một chiếc đồng hồ không kim, gõ từng nhịp một, và nhịp cuối cùng, nếu luật cũ còn nguyên, sẽ rơi vào đúng ngày thứ một trăm sau khi đứa bé chào đời.

Sáng hôm sau, Tư lên nhà ngoại thưa chuyện với bà Sen và xin bà thu xếp sang ở cùng cho đến ngày Mây sinh nở. Bà Sen nghe tin con gái có thai lần thứ tư thì mừng đến rơi nước mắt, rồi ngay sau đó mặt bà tái đi khi nhớ ra ba lần trước. Bà nắm tay Tư dặn đi dặn lại rằng lần này có dấu hiệu gì khác thường, dù nhỏ đến đâu, cũng phải nói ngay với bà Lựu, không được giấu, không được đợi. Tư ghi nhớ từng lời. Ông cũng ghé qua nhà bà Lựu, đặt trước một khoản tiền nhỏ lo việc đỡ đẻ và thuốc thang, dù nhà chẳng còn mấy đồng. Bà Lựu nhìn ông rất lâu rồi bảo, ông đồ cứ yên tâm, ba đứa trước tôi đỡ, đứa này tôi cũng đỡ, trời thương thì lần này khác. Tư cảm ơn bà mà lòng không yên chút nào, bởi ông biết trời thương hay không chưa từng là điều quyết định trong nhà này, điều quyết định là món nợ kia có được trả hay không, và ông còn chưa biết chủ nợ là ai.

Đêm hôm ấy, gió từ sông Đáy thổi vào lành lạnh. Mây đã ngủ. Tư còn thức, nằm nghe tiếng gió qua mái ngói, và giữa những cơn gió, ông nghe rất rõ một thứ âm thanh đã hai năm không xuất hiện: tiếng chân đi trên mái nhà, một bước nặng, một bước nhẹ kéo theo, khập khiễng, chậm rãi, đi từ đầu hồi phía nhà tổ về phía buồng ngủ của vợ chồng ông, rồi dừng lại đúng trên đầu giường.

Tư nín thở. Tiếng chân không đi nữa. Nó đứng yên ở đó, như có ai đang đứng trên mái, cúi xuống nhìn xuyên qua lớp ngói vào trong buồng tối. Mây khẽ trở mình, một tay vô thức đặt lên bụng. Tư nằm im, mồ hôi rịn ra ướt trán, và lần đầu tiên sau hai năm, ông hiểu rằng nó đã biết, và nó đã quay lại từ trước cả khi đứa trẻ ra đời.

Chương khác

Xem thêm