Vệt Sét Đầu Làng - Chương 18: Bến Đò Không Người
Ba ngày liền, cứ chập tối là bến đò đầu làng vắng tanh như chưa từng có người qua lại. Tuấn ngồi trên ghế xếp, nhìn con đường đất dẫn xuống bến đò mà…
Nội dung chương
Ba ngày liền, cứ chập tối là bến đò đầu làng vắng tanh như chưa từng có người qua lại.
Tuấn ngồi trên ghế xếp, nhìn con đường đất dẫn xuống bến đò mà lòng ngổn ngang. Ba ngày nay, anh ra đây mỗi chiều, đúng giờ, như một cái máy. Ba ngày nay, sương mù vẫn lên đúng mười bảy giờ, tiếng thở dài vẫn vang lên đều đặn, và bến đò thì ngày càng vắng. Đò ngang đã chính thức dời bến tạm xuống hạ lưu, cách gốc đa gần một cây số. Người lái đò nào cũng lắc đầu khi khách hỏi sao không cập bến cũ. Không ai giải thích. Mà cũng không cần giải thích.
Sáng nay, bà bán bánh tét đầu chợ đã níu tay Tuấn lại khi anh đi ngang qua.
Bà ta ngoài năm mươi, người tròn trĩnh, tay lúc nào cũng thoăn thoắt gói bánh. Bà dúi vào tay Tuấn một đòn bánh tét còn nóng hổi, rồi hạ giọng:
- Cậu Tuấn nè, tui nói thiệt, cậu đừng ra đó giờ Dậu nữa. Người ta nghe tiếng đàn bà khóc dưới gốc đa đó cậu. Khóc ai oán lắm. Mấy nhà gần bến đò đêm nào cũng nghe, có nhà phải dọn đi ở nhờ bên ngoại rồi đó.
Tuấn cầm đòn bánh tét, cười gượng:
- Dạ, con cảm ơn bà. Nhưng con làm nghề đo đạc, phải ra hiện trường mới có số liệu.
- Số liệu cái gì! - Bà bán bánh tét xua tay. - Cái thứ đó đo bằng máy nào được mà đo. Tui nói cậu nghe, hồi tui còn con gái, bà ngoại tui đã dặn: cây đa đầu bến là Thần Mộc, động vào là rước họa. Mà cậu coi, sét đánh chẻ đôi cây, chum người chết lộ ra, rồi thằng Ba Lực...
Bà ta bỏ lửng câu nói, mắt liếc về phía bến đò. Tuấn biết bà ta định nói gì. Ba ngày nay, Ba Lực càng lúc càng tiều tụy. Anh ta không còn ra bờ sông ngồi nữa mà cứ lẩn quẩn trong nhà, mắt trũng sâu, miệng lẩm bẩm những câu không ai hiểu. Vợ Ba Lực đã hai lần chạy sang lán khảo sát cầu cứu Tuấn, khóc lóc nói chồng cô đập phá bàn thờ, nửa đêm trèo lên nóc nhà ngồi.
Tuấn đã đến thăm Ba Lực một lần. Anh ta níu tay Tuấn, mắt dại đi:
- Kỹ sư ơi... trong đầu tôi... lúc nào cũng có tiếng lách cách... như ai gõ đinh vào sọ tôi...
Tuấn đã kê cho Ba Lực mấy viên thuốc an thần mà anh mang theo trong hộp y tế công trường, dặn vợ anh ta cho chồng uống rồi đưa ra trạm xá. Nhưng trong lòng Tuấn biết, thuốc an thần không chữa được cái thứ đang ăn mòn Ba Lực.
Chiều nay, Tuấn ra bến đò với một quyết tâm mới. Anh mang theo máy đo gió cầm tay và nhiệt kế hồng ngoại, hai món đồ nghề còn sót lại mà Hậu đã mượn được từ một đội khảo sát bạn đang làm công trình bên kia sông. Anh sẽ đo đạc một cách bài bản, liên tục ba ngày, để chứng minh rằng sương mù giờ Dậu chỉ là hiện tượng khí tượng bình thường: chênh lệch nhiệt độ, độ ẩm cao, gió sông đổi hướng. Chỉ thế thôi.
Mười bảy giờ, sương lên. Tuấn bấm máy đo gió: hướng tây nam, cấp 2, ổn định. Anh chĩa nhiệt kế hồng ngoại vào vùng đất quanh hố chum: 24 độ. Chĩa ra mặt đất cách đó mười mét: 27 độ. Chĩa vào thân cây đa: 22 độ.
Ba ngày liền, cùng một kết quả: vùng đất quanh hố chum và gốc đa lạnh hơn mặt đất xung quanh đúng ba độ C, không sai một ly. Tuấn đã đo vào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều. Chỉ có giờ Dậu là chênh lệch nhiệt độ xuất hiện rõ rệt nhất. Gió sông thổi đều, không có bóng râm bất thường, không có nguồn nước ngầm lộ thiên. Về mặt vật lý, không có lý do gì để một khoảnh đất lại lạnh hơn xung quanh một cách ổn định như vậy.
Tuấn ghi con số vào sổ, lòng nặng trĩu. Anh là kỹ sư, anh tin vào số liệu. Và số liệu đang nói với anh một điều mà anh không muốn nghe.
Ba ngày qua, anh đã lập một bảng theo dõi chi tiết: giờ giấc, nhiệt độ, hướng gió, độ ẩm, thời điểm sương lên, thời điểm tiếng thở dài vang lên. Mọi thứ đều có quy luật đến rợn người. Sương luôn lên đúng mười bảy giờ, không sớm một phút, không muộn một phút. Tiếng thở dài luôn vang lên ba lần, mỗi lần cách nhau chừng mười phút. Nhiệt độ vùng quanh gốc đa luôn thấp hơn xung quanh đúng ba độ. Một hiện tượng tự nhiên không thể đều đặn như đồng hồ báo thức. Tự nhiên vốn hỗn loạn, chỉ bàn tay con người sắp đặt mới chính xác đến thế.
Trong ba ngày ấy, bến đò đầu làng cũng chết dần theo một cách rất riêng. Quán nước của bà Tư Sánh, nơi từng tấp nập nhất bến, giờ đóng cửa im ỉm từ lúc mặt trời còn chưa lặn. Mấy sạp hàng ăn vặt dọn đi hết. Bọn trẻ con, đứa nào cũng bị cha mẹ cấm bén mảng ra bến sau bốn giờ chiều. Ngay cả con chó vàng nhà ông Hai Thành, con vật từng sủa ầm ĩ mỗi khi có người lạ đến bến, giờ cũng chỉ nằm cuộn tròn trong gầm giường, tai cụp xuống, không dám thò đầu ra.
Tuấn đã hỏi ông Hai Thành tại sao. Người lái đò già chỉ lắc đầu, mắt nhìn xa xăm về phía gốc đa:
- Cậu không sống ở đây ba mươi năm như tui, cậu không hiểu đâu. Có những thứ, người ta không cần thấy mới sợ. Nghe thôi cũng đủ rồi.
Đúng lúc đó, có tiếng bước chân nặng nề trên con đường đất. Ông Cả Nghiệp xuất hiện, chống gậy, theo sau là hai người làm công. Ông ta đi thẳng ra hố chum, đứng nhìn một lúc lâu, rồi bỗng quỳ sụp xuống.
Tuấn sững người. Ông Cả Nghiệp, bá hộ giàu nhất cù lao, người mà dân làng phải cúi đầu chào, đang quỳ giữa bãi đất trống, trước một cái hố đã lấp, chắp tay vái lạy như tế sao.
- Con lạy... con lạy... - Giọng ông ta run rẩy, đứt quãng. - Con hứa... con sẽ lấp hố... trồng đa mới... cúng lớn... cúng thật lớn... xin... xin đừng đòi nữa...
Ông ta vái ba vái, rồi ngẩng lên, mắt láo liên nhìn quanh như sợ có ai nhìn thấy. Khi bắt gặp ánh mắt của Tuấn, ông ta giật nảy mình, vội vàng chống gậy đứng dậy, phủi quần.
- Cậu... cậu làm gì ở đây?
- Tôi đo đạc, thưa ông Cả. - Tuấn giơ máy đo gió lên. - Hiện tượng khí tượng. Ghi chép khoa học.
Ông Cả Nghiệp nhìn chằm chằm vào Tuấn, rồi bỗng gằn giọng:
- Tôi nói cho cậu biết, cái hố này tôi sẽ lấp. Lấp hẳn. Trồng cây mới lên trên. Cậu đừng có lảng vảng đo đạc gì nữa. Giấy phép khảo sát của cậu là do xã cấp, mà xã thì... - Ông ta bỏ lửng câu nói, nhưng ý tứ thì rõ như ban ngày. - Cậu là người có học, đừng có dại mà chống lại cả cái cù lao này.
Tuấn siết chặt cây nạng trong tay. Cái chân bó bột nhói lên, nhưng anh đứng thẳng người.
- Thưa ông Cả, hiện trường này đã được báo công an xã. Theo quy định, phải giữ nguyên trạng cho đến khi có kết luận. Tôi chỉ làm đúng trách nhiệm của một kỹ sư.
- Trách nhiệm? - Ông Cả cười khẩy, nhưng nụ cười của ông ta méo xệch. - Cậu giữ được cái gì? Máy móc của cậu đâu? Người của cậu đâu? Cậu chỉ còn một cái chân què và cuốn sổ rách. Tôi khuyên cậu thật lòng, về Sài Gòn đi. Ở đây không có gì cho cậu đo đâu.
Nói rồi ông ta quay lưng bỏ đi, hai người làm công vội vàng chạy theo. Tuấn đứng nhìn theo, bàn tay siết chặt cuốn sổ đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Trong làn sương mù đang cuộn lên quanh gốc đa, bóng ông Cả Nghiệp khuất dần. Chỉ còn tiếng gậy gõ lộc cộc trên mặt đất, mỗi lúc một xa, mỗi lúc một gấp gáp, như thể ông ta đang chạy trốn một thứ mà chỉ mình ông ta nhìn thấy.
Tối về lán, Tuấn mở sổ ra, viết một dòng ngắn gọn dưới mục ghi chú:
"Đối tượng cản trở khảo sát: ông Cả Nghiệp. Động cơ: chưa rõ. Mức độ: đe dọa trực tiếp rút giấy phép."
Anh đóng sổ lại, thở dài. Ngoài cửa lán, tiếng côn trùng rả rích. Từ phía bến đò xa xa, trong tiếng gió sông vi vu, Tuấn nghe loáng thoáng tiếng thở dài vọng về, não nề như mọi đêm.
Anh đứng dậy, chống nạng ra cửa lán, định hít thở chút không khí cho tỉnh táo. Đêm nay trăng non, ánh sáng mờ ảo rải trên con đường đất. Tuấn quay lưng định bước vào trong thì...
Lách cách.
Một tiếng động rất khẽ vang lên sau lưng anh, từ phía bến đò vọng lại. Tuấn đứng khựng lại, nín thở lắng nghe. Lách cách. Lách cách. Tiếng động đều đặn, khô khốc, như kim loại cọ vào xương, vọng lên từ dưới lớp đất ẩm.
Tuấn quay phắt lại. Con đường đất vắng tanh. Bến đò xa xa chìm trong sương mù mờ ảo. Không một bóng người.
Nhưng tiếng lách cách vẫn vang lên, đều đặn, kiên nhẫn, như có ai đó đang ngồi dưới lòng đất, gõ từng nhịp, từng nhịp, đếm một thứ mà chỉ người dưới đất mới biết.
Tuấn lùi vào trong lán, đóng sập cửa lại. Anh ngồi phịch xuống giường, tim đập thình thịch. Trong đầu anh, câu nói của Ba Lực mấy hôm trước lại vang lên, rõ mồn một như mới nghe hôm qua:
- Kỹ sư ơi... trong đầu tôi... lúc nào cũng có tiếng lách cách... như ai gõ đinh vào sọ tôi...
Tuấn ôm đầu, cố xua đi âm thanh ấy. Nhưng càng cố quên, tiếng lách cách lại càng rõ, như thể nó không phát ra từ ngoài bến đò nữa, mà đang vang lên ngay trong hộp sọ của chính anh.