Vệt Sét Đầu Làng - Chương 20: Trạm Xá
Sáng sớm hôm sau, Tuấn thuê một chiếc xe ba gác máy đưa Ba Lực ra trạm xá xã. Chị Mận ngồi ôm chồng ở thùng xe sau, Ba Lực thì bị trói nhẹ hai tay vào…
Nội dung chương
Sáng sớm hôm sau, Tuấn thuê một chiếc xe ba gác máy đưa Ba Lực ra trạm xá xã.
Chị Mận ngồi ôm chồng ở thùng xe sau, Ba Lực thì bị trói nhẹ hai tay vào thành xe bằng dây vải, miệng vẫn lẩm bẩm không ngừng. Tuấn ngồi phía trước cùng bác tài, cái chân bó bột gác lên thanh ngang, mắt nhìn đăm đăm về phía con đường đất đỏ dẫn ra khỏi cù lao.
Trạm xá xã là một dãy nhà cấp bốn cũ kỹ, tường vôi bong tróc, mùi thuốc sát trùng nồng nặc. Bác sĩ trực là một người đàn ông ngoài bốn mươi, gầy gò, mắt thâm quầng vì thiếu ngủ. Ông khám cho Ba Lực rất kỹ: đo huyết áp, nghe tim phổi, soi mắt, gõ phản xạ gân xương. Xong, ông lắc đầu.
- Không phát hiện tổn thương thực thể nào. Huyết áp hơi cao, tim đập nhanh, mất nước nhẹ vì mấy ngày không ăn uống đầy đủ. Còn lại bình thường.
- Thưa bác sĩ, nhưng anh ấy... - Chị Mận nức nở. - Anh ấy cứ nói có tiếng gõ trong đầu, rồi thấy người đàn bà đầu cắm đinh...
Bác sĩ thở dài, ghi đơn thuốc:
- Rối loạn lo âu cấp sau sang chấn tâm lý. Tôi cho thuốc an thần liều nhẹ, uống hai lần một ngày. Quan trọng là phải cho bệnh nhân ngủ đủ, ăn đủ, tránh kích thích. Nếu sau một tuần không đỡ thì chuyển lên bệnh viện tỉnh.
Tuấn cầm đơn thuốc, lòng nhẹ nhõm hẳn. Nhưng khi anh đang dìu Ba Lực ra cổng trạm xá, bác sĩ bỗng gọi giật lại, hạ giọng:
- Này cậu, cậu là kỹ sư đội khảo sát ở cù lao An Thạnh phải không?
- Dạ phải.
- Tôi nói nhỏ cậu nghe. - Bác sĩ nhìn quanh, chắc chắn không có ai. - Tuần này, trạm xá tiếp bốn ca đau đầu kinh niên, toàn người già trong họ nhà ông Cả Nghiệp. Khám không ra bệnh gì, cho thuốc giảm đau cũng không đỡ. Họ đều nói giống nhau một câu: đau như có thằng nện búa đóng đinh vào sọ. Cậu... cậu làm ở gần gốc đa, cậu có nghe ngóng được gì không?
Tuấn sững người. Bốn ca đau đầu, cùng một dòng họ, cùng một mô tả "như bị đóng đinh". Anh định hỏi thêm thì bác sĩ đã quay vào trong, như sợ mình đã nói quá nhiều.
Trên đường về, Tuấn cứ nghĩ mãi về câu chuyện của bác sĩ. Bốn người già họ ông Cả, đau đầu như bị đóng đinh, thuốc giảm đau vô hiệu. Cộng với Ba Lực nghe tiếng gõ trong đầu. Tất cả đều liên quan đến "đinh". Một sự trùng hợp kỳ lạ đến mức khiến gáy Tuấn nổi da gà.
Nhưng rồi anh lắc đầu, tự trấn an mình. Đau đầu vận mạch do thay đổi áp suất khí quyển là chuyện thường ở người già. Mùa này giông bão thất thường, áp suất lên xuống liên tục. Còn Ba Lực thì rõ ràng là sang chấn tâm lý. Hai chuyện không liên quan gì đến nhau. Khoa học đã lên tiếng. Không có tổn thương thực thể, nghĩa là không có gì siêu nhiên.
Trên đường về, chiếc xe ba gác máy chạy êm ru trên con đường đất. Gió sông mát rượi thổi qua. Và rồi, lần đầu tiên sau bốn ngày, Ba Lực ngủ thiếp đi.
Tuấn nhìn người tài xế gầy rộc gục đầu vào vai vợ, thở đều đều, mà thấy mắt mình cay cay. Anh thầm nghĩ: khoa học đã thắng. Chỉ cần ngủ một giấc thật ngon, Ba Lực sẽ tỉnh lại, sẽ quên đi những âm thanh hoang tưởng, sẽ trở lại làm người tài xế máy xúc hiền lành như trước.
Chị Mận cũng khóc, nhưng lần này là khóc vì mừng. Chị nắm tay Tuấn, nói không thành tiếng:
- Cảm ơn cậu... cảm ơn cậu nhiều lắm...
Tuấn mỉm cười, vỗ nhẹ lên mu bàn tay chị. Lần đầu tiên sau nhiều ngày, anh cảm thấy mình lại là một kỹ sư, một con người của lý trí, đứng vững trên mặt đất của khoa học.
Nhưng niềm vui ấy ngắn chẳng tày gang.
Chiều đó, trời chuyển mây đen kịt. Từ phía thượng nguồn sông Tiền, những đám mây chì ùn ùn kéo về, gió nổi lên ào ào. Rồi từ xa, rất xa, vang lên một tràng sấm rền, trầm và dài, như tiếng trống của một đoàn quân đang tiến đến.
Ba Lực đang ngủ thiếp trên giường bỗng bật dậy như bị điện giật.
Mắt anh ta trợn trừng, đỏ ngầu. Anh ta xé toang dây vải buộc tay, lao ra cửa, miệng gào lên:
- Nó đến! Nó đến đòi đinh! Mở cửa ra! Tui phải ra! Tui phải trả đinh cho nó!
Chị Mận và Tuấn vội lao tới giữ lại. Ba Lực khỏe một cách phi thường, hất cả hai người ngã dúi dụi. Anh ta lao ra sân, định trèo qua hàng rào chạy về phía bến đò. Phải đến khi bốn năm người hàng xóm chạy sang phụ giữ, Ba Lực mới bị khống chế, trói chặt vào cột nhà.
Tuấn đứng thở hổn hển, nhìn Ba Lực giãy giụa, mà lòng lạnh toát. Thuốc an thần liều nhẹ mà bác sĩ kê, Ba Lực đã uống một viên lúc trưa. Vậy mà chỉ một tràng sấm xa đã đánh thức cơn điên trở lại, dữ dội gấp bội.
Tối đó, Tuấn quyết định ở lại nhà Ba Lực canh chừng. Anh mang theo cuốn sổ hiện tượng, cây bút, và chiếc đèn pin. Chị Mận nấu một nồi cháo trắng, nhưng Ba Lực không ăn, chỉ uống hết viên thuốc an thần thứ hai rồi nằm vật ra giường, mắt mở trừng trừng nhìn lên trần nhà.
- Thuốc không át được tiếng đó đâu, kỹ sư ơi. - Ba Lực nói, giọng đều đều, vô hồn. - Nó gõ dưới đất, gõ hoài. Lách cách... lách cách... Càng uống thuốc, tai tui càng thính. Tui nghe rõ hơn.
Tuấn rùng mình. Anh ghi vào sổ: "21:30. Bệnh nhân đã uống 2 viên an thần liều nhẹ. Không ngủ được. Ảo thanh không giảm, có dấu hiệu tăng."
Đêm trôi qua nặng nề. Tuấn thức trắng, ghi lại từng cơn mê sảng của Ba Lực. Lúc thì anh ta cười khanh khách, tiếng cười the thé như xé vải. Lúc thì khóc nức nở, nước mắt giàn giụa mà mắt vẫn mở trừng trừng. Lúc thì gào lên những câu vô nghĩa:
- Đừng đóng nữa... đau quá... tui trả... tui trả hết...
Mỗi lần như vậy, chị Mận lại lao tới ôm chồng, vỗ về như vỗ một đứa trẻ.
Khoảng mười một giờ đêm, Ba Lực bỗng ngồi dậy, chỉ tay ra cửa sổ, hướng về phía bến đò, nói bằng giọng tỉnh táo đến lạ:
- Kỹ sư nhìn kìa. Sương lên rồi. Nó đang đếm đinh đó. Một... hai... ba...
Tuấn nhìn ra cửa sổ. Ngoài trời tối đen, không có sương, không có gì cả. Nhưng Ba Lực vẫn đếm, đều đặn, cho đến bảy thì dừng lại, rồi bắt đầu đếm lại từ đầu. Tuấn ghi vào sổ, tay run run: "23:00. Bệnh nhân đếm số từ 1 đến 7 lặp lại, hướng về phía gốc đa. Trùng khớp với số lượng đinh đồng trên hài cốt."
Anh không dám viết tiếp suy nghĩ của mình: tại sao một người tài xế máy xúc chưa từng được cho xem kỹ hài cốt lại biết có đúng bảy cây đinh.
Khoảng một giờ sáng, trong lúc Ba Lực đang lịm đi nửa tỉnh nửa mê, chị Mận bỗng khẽ nói với Tuấn:
- Kỹ sư Tuấn nè, có chuyện này tui không dám nói với ai. Mấy đêm nay, lúc mê sảng, ổng cứ ú ớ gọi tên một người đàn bà.
Tuấn ngẩng lên:
- Tên gì, chị?
- "Lành". - Chị Mận hạ giọng đến mức gần như thì thầm. - Ổng cứ gọi "Lành ơi... Lành ơi... tha cho tui... tui chỉ làm thuê... tui không biết gì hết...". Tui hỏi ổng Lành là ai, ổng không trả lời, chỉ khóc.
Tuấn cau mày. Cái tên "Lành" chưa từng xuất hiện trong bất kỳ lời kể nào của dân làng mà anh nghe được từ trước đến nay. Không ai nhắc đến một người đàn bà tên Lành. Không ai kể về một Lành nào liên quan đến gốc đa hay cái chum. Vậy mà trong cơn mê sảng, Ba Lực lại gọi tên ấy, tha thiết như gọi một người quen cũ.
- Chị có hỏi thăm trong làng chưa? Có ai tên Lành không?
- Tui hỏi rồi. - Chị Mận lắc đầu. - Trong làng bây giờ không có ai tên Lành. Mấy cụ già thì bảo... hồi xưa, lâu lắm rồi, hình như có một cô gái tên Lành, làm nghề gánh nước thuê. Nhưng cô ấy mất tích từ mấy chục năm trước, không ai nhớ rõ nữa.
Tuấn ghi vội vào sổ: "Tên 'Lành' xuất hiện lần đầu trong cơn mê sảng của Ba Lực. Dân làng: từng có cô gái gánh nước tên Lành, mất tích mấy chục năm trước."
Anh ngẩng lên định hỏi thêm thì bỗng khựng lại. Ba Lực đang nằm trên giường, bỗng ngồi bật dậy.
Lúc này là ba giờ sáng. Trong ánh đèn dầu mờ ảo, Ba Lực ngồi thẳng đơ như một khúc gỗ, mắt mở to, sáng quắc một cách kỳ lạ. Anh ta không còn vẻ điên dại nữa. Khuôn mặt anh ta bình thản đến rợn người. Và khi anh ta cất tiếng nói, giọng nói ấy rành rọt, rõ ràng, đều đều, không còn chút khàn đặc nào của người mất ngủ bốn ngày.
Như thể có một người khác đang mượn miệng anh ta để nói.
- Bảy cây đinh, một cây cho một mạng.
Chị Mận hét lên một tiếng thất thanh, ngã ngửa ra sau. Tuấn đứng bật dậy, cây bút rơi xuống nền nhà. Ba Lực vẫn ngồi đó, mắt nhìn thẳng vào Tuấn, môi mấp máy nhắc lại, từng chữ một, chậm rãi, lạnh lẽo:
- Bảy cây đinh... một cây cho một mạng... Bảy cây đinh... một cây cho một mạng...
Rồi anh ta đổ vật xuống giường, ngất lịm. Trong nhà chỉ còn tiếng thở hổn hển của chị Mận và tiếng tim Tuấn đập thình thịch trong lồng ngực.
Tuấn run rẩy nhặt cây bút lên, ghi vào sổ dòng cuối cùng của đêm nay. Nét chữ của anh ngoằn ngoèo, xiêu vẹo, phải cố lắm mới đọc được:
"03:00. Bệnh nhân nói rành rọt như người khác nhập: 'Bảy cây đinh, một cây cho một mạng.' Không lý giải được bằng y học."
Ngoài trời, tràng sấm xa lại rền vang. Và từ phía bến đò, trong tiếng sấm, Tuấn nghe rõ có tiếng thở dài vọng về, dài hơn, ai oán hơn mọi đêm, như thể có ai đó vừa đếm xong một con số, và đang bắt đầu đếm lại từ đầu.