Vệt Sét Đầu Làng - Chương 33: Lời Thú Nhận

Sáng hôm sau, Tuấn quay lại chòi lá ven rặng bần. Cơn sốt đã hạ, nhưng người anh vẫn còn bải hoải. Trong ví anh, sợi tóc dài ướt sương đã khô, nhưng mùi…

Nội dung chương

Sáng hôm sau, Tuấn quay lại chòi lá ven rặng bần.

Cơn sốt đã hạ, nhưng người anh vẫn còn bải hoải. Trong ví anh, sợi tóc dài ướt sương đã khô, nhưng mùi bồ kết vẫn còn thoang thoảng. Trong túi áo anh, cây đinh đồng mẫu nặng trịch. Và trong đầu anh, một quyết tâm sắt đá: hôm nay, anh phải nghe toàn bộ sự thật. Dù sự thật ấy có đau đớn đến đâu, có kinh khủng đến đâu.

Thầy Bảy Đờn đang ngồi trước sân, nhìn ra mặt sông, dáng lom khom như một pho tượng đá. Thấy Tuấn đến, ông ta không ngạc nhiên, chỉ khẽ gật đầu, như thể đã biết trước anh sẽ quay lại.

Tuấn bước vào chòi, đặt chiếc máy ghi âm lên bàn, bật chế độ ghi. Anh nhìn thẳng vào mắt ông già, nói bằng một giọng bình tĩnh đến lạ thường:

- Cụ kể hết đi. Từ đầu đến cuối. Tôi chịu nghe. Tôi không bỏ chạy nữa.

Thầy Bảy nhìn chiếc máy ghi âm, rồi nhìn Tuấn. Ông ta thở dài một hơi dài, như trút ra một gánh nặng đã đè lên ngực suốt ba mươi năm. Rồi ông ta bắt đầu kể, giọng khàn đặc, đứt quãng, nước mắt cứ trào ra không ngừng.

- Ba mươi năm trước... tao còn là một thợ mộc trẻ, khỏe mạnh, hai tay lành lặn. Nghề mộc của tao nức tiếng khắp cù lao, nhà nào làm nhà cũng mời. Nhưng mẹ tao... mẹ tao bị mù lòa, cần tiền mổ mắt gấp. Bác sĩ nói nếu không mổ sớm, bà sẽ mù vĩnh viễn. Tao chạy vạy khắp nơi, vay mượn khắp nơi, nhưng không đủ.

Ông ta dừng lại, lau nước mắt bằng mu bàn tay.

- Rồi một hôm, ông Cả Nghiệp cho người gọi tao đến dinh thự. Ổng đặt trước mặt tao một bọc tiền lớn, to đến mức tao chưa bao giờ thấy nhiều tiền như vậy trong đời. Ổng nói: "Tao có một việc cần mày làm. Làm xong, số tiền này là của mày, đủ cho mẹ mày mổ mắt, còn dư sống cả đời."

- Việc gì? - Tuấn hỏi, dù anh đã đoán được câu trả lời.

- Rèn bảy cây đinh đồng. - Thầy Bảy nói, giọng run rẩy. - Dài đúng hai mươi phân mỗi cây. Mũ đinh khắc bùa đỏ theo đúng phép trong nửa cuốn Lỗ Ban Kinh Đàn mà tao giữ. Ổng dặn đi dặn lại: phải đúng hai mươi phân, không được sai một ly. Bùa phải khắc đúng nét, không được sai một nét.

- Rồi sao nữa?

- Tao hỏi ổng rèn đinh để làm gì. Ổng cười, nói là để yểm bùa giữ của, trấn trạch cho dinh thự mới xây. Chuyện thợ mộc yểm bùa khi làm nhà là chuyện thường, tao không nghi ngờ gì. Tao nhận tiền, về rèn đinh. Mất đúng bảy ngày bảy đêm, tao rèn xong bảy cây đinh, khắc bùa đỏ theo đúng sách.

Thầy Bảy ngừng lại, hai bàn tay run lẩy bẩy.

- Đêm thứ bảy, ổng cho người đến đón tao ra gốc đa đầu bến đò. Lúc đó, cây đa còn non, mới trồng được vài năm, chưa to như bây giờ. Dưới gốc cây, người ta đã đào sẵn một cái hố sâu. Và trong hố... có một cái chum sành da lươn to đùng.

Tuấn nín thở. Anh biết đoạn tiếp theo sẽ là điều kinh khủng nhất.

- Người ta khiêng ra một cô gái. - Giọng thầy Bảy vỡ ra. - Cô ấy còn trẻ lắm, chừng ngoài hai mươi, người gầy gò, mặc bộ bà ba nâu sờn rách. Cô ấy mê man, không biết gì. Ổng nói với tao: nó uống chén trà có bỏ thuốc mê, ngủ say như chết. Mày chỉ cần đóng đinh theo đúng vị trí tao chỉ, còn lại đừng hỏi.

- Cô ấy là ai? - Tuấn hỏi, giọng lạc đi.

- Út Lành. - Thầy Bảy khóc nức nở. - Con Út Lành, gái gánh nước nghèo nhất cù lao. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống một mình trong túp lều tranh ven sông, ngày ngày gánh nước thuê cho từng nhà, mỗi gánh được vài đồng bạc lẻ. Vừa sinh con được một tháng thì thằng chồng bội bạc bỏ đi theo gái giàu, để lại hai mẹ con bơ vơ. Một mình nó nuôi con, gánh nước thuê kiếm từng đồng mua sữa. Hiền lành, chịu thương chịu khó, cả làng ai cũng thương, ai cũng thỉnh thoảng cho nó bát cơm, manh áo cũ.

Tuấn cảm thấy tim mình như bị ai bóp nghẹt. Một cô gái gánh nước nghèo, đơn thân, vừa sinh con một tháng. Giống hệt người đàn bà trong giấc mơ của anh đêm qua.

- Sao... sao lại chọn cô ấy? - Tuấn hỏi, nước mắt trào ra.

- Vì bát tự của nó thuần âm. - Thầy Bảy nói. - Ổng đi xem thầy, thầy nói muốn yểm bùa giữ của linh nghiệm nhất thì phải dùng người có bát tự thuần âm, vừa sinh con xong, âm khí nặng nhất. Con Út Lành... nó hợp đủ mọi điều kiện. Nghèo, không ai bênh vực. Đơn thân, không ai tìm kiếm. Vừa sinh con, âm khí nặng. Ông Cả đã nhắm nó từ lâu.

Tuấn ôm mặt, khóc nức nở. Mẹ anh. Mẹ ruột của anh đã bị chọn làm vật tế chỉ vì nghèo, vì đơn thân, vì bát tự thuần âm. Một mạng người, trong mắt ông Cả Nghiệp, chỉ là một món đồ nghề cho nghi thức giữ của của ông ta.

- Rồi sao nữa, cụ? Kể tiếp đi.

- Người ta bỏ con Lành vào chum sành. Nó vẫn mê man, không biết gì. Rồi ổng ra lệnh cho tao đóng đinh. Bảy cây đinh, đóng vào bảy đại huyệt: đỉnh đầu, đốt sống cổ, bả vai, lồng ngực, thắt lưng, đầu gối, yết hầu. Tao... tao đã đóng. Tay tao run, nhưng tao vẫn đóng. Vì mẹ tao đang chờ tiền mổ mắt. Vì tao nghĩ... tao nghĩ chỉ là yểm bùa, người ta vẫn sống...

Thầy Bảy đấm ngực thình thịch, khóc lóc thảm thiết.

- Ai ngờ... ai ngờ khi cây đinh thứ bảy, cây đinh cuối cùng đóng xuống yết hầu, con Lành tỉnh dậy! Thuốc mê hết tác dụng đúng lúc oan nghiệt nhất! Nó gào khóc, giãy giụa trong chum, máu từ bảy vết đinh chảy ra ướt đẫm, nó gọi con! Nó gọi: "Con ơi! Con tui đâu? Trả con cho tui! Đừng chôn tui! Tui còn con nhỏ!" Tao... tao sợ quá, tay tao run đến mức đánh rơi cả búa, tao định dừng lại, nhưng người của ổng giữ chặt tay tao, dí búa vào tay tao, bắt tao đóng nốt. Rồi người ta đậy nắp chum lại, quấn xích đồng quanh chum, chôn xuống hố, lấp đất lại. Tiếng gào khóc của nó nhỏ dần, nhỏ dần, rồi tắt hẳn trong lòng đất lạnh lẽo.

Trong chòi lá im phăng phắc. Chỉ còn tiếng khóc nức nở của hai người đàn ông. Tuấn tưởng tượng ra cảnh ấy: một người mẹ vừa sinh con một tháng, bị bỏ thuốc mê, tỉnh dậy trong bóng tối của chiếc chum sành, bị đóng bảy cây đinh vào người, gào khóc gọi con trong tuyệt vọng, rồi bị chôn sống dưới lòng đất.

Và đứa con đỏ hỏn của cô ấy, đứa bé một tháng tuổi, đang ở đâu trong lúc mẹ nó bị chôn sống?

Như đọc được suy nghĩ của Tuấn, thầy Bảy nói tiếp, giọng đứt quãng:

- Đứa bé... đứa bé đỏ hỏn, người ta đem bỏ ở cổng chùa cổ trong đêm. Kèm theo một mảnh giấy, ghi mỗi hai chữ "Út Lành". Tao... chính tao là người bế nó đi. Ổng sai tao bế đi, để không ai lần ra. Tao bế đứa bé đi trong đêm, nó khóc ngằn ngặt, đói sữa. Tao... tao đã định mang nó về nuôi, nhưng tao sợ... tao sợ ổng biết... nên tao đặt nó ở cổng chùa, gõ cửa ba tiếng rồi bỏ chạy.

Tuấn nghe đến đây thì toàn thân lạnh toát, máu trong người như đông lại.

Trong hồ sơ mồ côi của anh, có đúng một dòng chữ mà anh đã đọc đi đọc lại hàng trăm lần: "Nhặt được tại cổng chùa, trong tã lót có mảnh giấy ghi hai chữ." Hai chữ gì thì hồ sơ không ghi rõ. Nhưng giờ đây, anh biết hai chữ ấy là gì.

Út Lành.

Đứa bé đỏ hỏn bị bỏ ở cổng chùa ba mươi năm trước chính là anh. Người đàn bà bị chôn sống trong chum chính là mẹ ruột của anh. Vết bớt đỏ sau gáy anh, thầy Bảy nói giống y chang mẹ anh hồi trẻ, là dấu vết duy nhất mà mẹ để lại cho anh, ngoài hai chữ trên mảnh giấy.

Thầy Bảy quỳ sụp xuống, lết tới ôm chân Tuấn, khóc lóc thảm thiết:

- Tao tưởng chỉ là yểm bùa giữ của, ai ngờ là chôn sống người ta! Tội này tao mang xuống mồ cũng không hết! Mày đánh tao đi! Mày giết tao đi! Tao đáng chết! Tao đáng chết ngàn lần!

Tuấn nhìn ông già đang quỳ dưới chân mình, lòng đau như cắt. Ông ta có tội. Tội của ông ta là đã đóng bảy cây đinh, đã bế đứa bé đi bỏ ở cổng chùa. Nhưng ông ta cũng chỉ là một nạn nhân khác của ông Cả Nghiệp, một người con bị dồn vào chân tường vì mẹ mù lòa cần tiền mổ mắt.

Tuấn đỡ thầy Bảy dậy, giọng nghẹn ngào:

- Cụ đứng dậy đi. Người đáng chết không phải là cụ. Mà là kẻ đã ra lệnh. Kẻ đã biến mẹ con thành vật tế giữ của cho hắn.

Ngoài rặng bần, gió bỗng thổi mạnh, lá bần xào xạc dữ dội. Và từ phía bến đò xa xa, tiếng sấm rền vang lên, trầm đục, kéo dài, như tiếng trời đang nổi giận.

Tuấn nhìn về phía bến đò, siết chặt cây đinh đồng trong tay. Trong đầu anh, tám chữ trên bản đồ cổ lại hiện lên, cháy sáng:

"Chôn người sống, khóa hồn giữ của."

Giờ thì anh đã biết toàn bộ sự thật. Mẹ anh bị chôn sống. Anh bị bỏ rơi ở cổng chùa. Ông Cả Nghiệp là chủ mưu. Thầy Bảy Đờn là người rèn đinh.

Và anh, Lê Văn Tuấn, đứa con của Út Lành, sẽ là người đòi lại công bằng cho mẹ.

Dù phải trả giá bằng gì đi nữa.

Chương khác

Xem thêm