Vệt Sét Đầu Làng - Chương 37: Họp kín trong dinh thự
Đêm xuống, mưa vẫn chưa nặng hạt, chỉ lất phất như sương. Trong dinh thự ông Cả Nghiệp, gian nhà thờ họ đã tắt bớt đèn, chỉ còn hai ngọn đèn dầu cháy leo…
Nội dung chương
Đêm xuống, mưa vẫn chưa nặng hạt, chỉ lất phất như sương. Trong dinh thự ông Cả Nghiệp, gian nhà thờ họ đã tắt bớt đèn, chỉ còn hai ngọn đèn dầu cháy leo lét trước bàn thờ tổ, khói hương cuộn lên thành từng dải mỏng trong không khí ẩm ướt. Ông Cả ngồi một mình trong buồng riêng, cánh cửa gỗ lim đóng chặt, tay run run nhấc chiếc điện thoại bàn màu đen cũ kỹ. Đây là đường dây riêng, số máy chỉ có vài người biết, không qua tổng đài xã.
Đầu dây bên kia bắt máy sau ba hồi chuông. Giọng đàn ông khàn khàn, ngái ngủ:
- A lô?
- Sáu Sừng hả? Tao, Cả Nghiệp đây.
Im lặng một nhịp. Rồi giọng bên kia tỉnh hẳn:
- Dạ, ông Cả. Ông cần gì ạ?
Ông Cả hạ giọng thấp đến mức gần như thì thầm, mắt láo liên nhìn ra khe cửa dù trong buồng không có ai.
- Mày gom cho tao năm thằng tin cẩn nhất. Đêm nay, lúc nửa đêm, ghe không đèn cập bến đò cù lao An Thạnh. Việc duy nhất: đốt sạch gốc đa đầu bến, đào tung cái hố đất ở đó lên mà đốt. Và... chôn luôn hai kẻ nhiều chuyện đang lảng vảng ở đó. Thằng kỹ sư trắc địa với ông già thợ mộc một tay.
Đầu dây bên kia im lặng vài giây, rồi cười khẽ:
- Ông Cả yên tâm. Năm thằng em đều là dân cát sỏi lâu năm, tay chân sạch sẽ.
- Tiền công gấp ba giá thường. Đặt cọc một nửa, thằng Tèo sẽ mang qua ngay đêm nay. Xong việc, nửa còn lại trao tay. Nhưng nhớ kỹ... - Ông Cả nghiến răng. - Không để lại dấu vết. Bão đêm nay sẽ cuốn sạch mọi thứ, trời giúp mình.
- Dạ, ông Cả cứ yên tâm ngủ.
Ông Cả gác máy, ngồi thẫn thờ một lúc lâu. Ông mở ngăn kéo bàn, lấy ra một phong bì dày cộp toàn tiền polymer mới cứng, đếm lại một lượt rồi gọi thằng Tèo, đứa người làm tin cẩn nhất, dặn mang qua bến sông bên kia giao cho người của Sáu Sừng ngay trong đêm. Thằng Tèo cầm phong bì, tay hơi run, nhưng không dám hỏi một câu. Trong dinh thự này, tiền đi đêm là chuyện thường, hỏi nhiều thì mất việc, mà mất việc nhà ông Cả thì cả cù lao này chẳng còn chỗ nào dám nhận.
Bàn tay ông vẫn run khi đóng ngăn kéo lại, mồ hôi ướt đẫm lưng áo bà ba lụa. Ba mươi năm trước, ông cũng từng ngồi trong chính căn buồng này, ra lệnh cho một toán người khác làm một việc tương tự, và cái giá ông trả khi đó chỉ là một bọc tiền cho gã thợ mộc nghèo cần tiền chữa bệnh cho mẹ. Đêm nay, ông lại trả tiền mua mạng người, nhiều hơn, gọn gàng hơn. Tiền của ông Cả Nghiệp chưa bao giờ mua hụt.
Ông đứng dậy, bước ra gian nhà thờ họ. Trước bàn thờ tổ cao ngất, ông run run châm ba nén nhang, cắm vào lư đồng. Khói nhang bốc lên nghi ngút, mùi trầm nồng nặc. Ông quỳ xuống chiếc chiếu hoa trải sẵn, chắp tay khấn vái, miệng lẩm bẩm:
- Tổ tiên phù hộ... con làm vậy cũng là để giữ yên họ tộc... giữ cái cơ nghiệp này... xin tổ tiên chứng giám...
Đúng lúc ấy, từ phía biển xa vọng lại một tràng sấm đầu mùa, trầm đục, kéo dài. Ông Cả giật nảy người, ba nén nhang rơi khỏi tay. Cơn co giật quen thuộc ập tới không báo trước: hai tay ông ôm chặt lấy đầu, cơ thể co rúm lại, miệng mấp máy những tiếng vô nghĩa. Ông lồm cồm bò dưới gầm bàn thờ, cuộn tròn người lại trong bóng tối, run lẩy bẩy.
Trong bóng tối gầm bàn thờ, mùi gỗ mục và mùi nhang cháy dở xộc vào mũi ông. Ông nhớ lại hồi còn nhỏ, mỗi lần trời nổi sấm, ông cũng chui xuống gầm bàn thờ như thế này, mẹ ông phải dỗ dành mãi mới chịu ra. Hồi đó ông sợ sấm vì sấm to, vì ánh chớp sáng lòa như muốn xé toang mái nhà. Bây giờ ông sợ sấm vì trong tiếng sấm, ông nghe thấy tiếng gào khóc của một người đàn bà, tiếng kim loại cọ vào xương lách cách, và tiếng CHOẢNG khô khốc của gầu máy xúc nện vào miệng chum. Ba mươi năm ông tưởng mình đã chôn chặt được quá khứ dưới gốc đa non, ai ngờ nó chỉ nằm đó chờ ngày đội đất chui lên.
- Đừng... đừng đến đây... - Ông rên rỉ trong bóng tối. - Tao cho chúng mày tiền rồi... tao cho hết rồi...
Ngoài cửa buồng, bà Cả đứng nép sau tấm rèm, mặt tái mét, hai tay bấu chặt vào nhau. Bà đã nghe được một phần cuộc điện thoại của chồng, những chữ "đốt sạch", "chôn luôn" cứa vào tai bà như dao. Bà muốn chạy đi báo cho ai đó, nhưng đôi chân bà như bị đóng đinh xuống nền gạch. Lời cảnh cáo của chồng chiều nay vẫn còn vang vọng: bà mà nói một chữ, bà sẽ theo con Út Lành.
Bà Cả lùi dần về buồng mình, khép cửa lại, ngồi bệt xuống giường, toàn thân run rẩy. Ngoài trời, mưa bắt đầu rơi lất phất trên mái ngói, tí tách, tí tách, như tiếng ai đó đang gõ cửa. Bà chợt nhớ mang máng, hồi bà mới về làm dâu nhà này ba mươi năm trước, có một cô gái gánh nước hay gánh ngang qua cổng dinh, dáng người nhỏ thó, gánh nước thuê nuôi con nhỏ. Có lần bà còn cho cô ấy thêm mấy đồng vì thấy thương đứa bé đỏ hỏn quấn trong chiếc khăn rách. Rồi đùng một cái, cô gái ấy biến mất, không ai trong làng nhắc đến nữa, như thể cô chưa từng tồn tại. Giờ đây bà mới hiểu, cô gái ấy đã nằm dưới gốc đa suốt ba mươi năm, và chồng bà là kẻ đã đặt cô ấy xuống đó.
Trong khi đó, ở chòi lá gần gốc đa, Tuấn và thầy Bảy Đờn đang chia nhau ca trực đêm. Chòi lá nằm khuất sau một lùm tre, cách gốc đa chừng năm mươi mét, vừa đủ để quan sát mà không bị lộ. Thầy Bảy ngồi mài lại con dao bầu cũ trên hòn đá mài ướt, tiếng sột soạt đều đặn vang lên trong đêm tĩnh lặng. Lưỡi dao dần sáng lên dưới ánh đèn pin, phản chiếu ánh thép lạnh lẽo.
Tuấn ngồi bên chiếc bàn tre, kiểm tra lại từng thiết bị: flycam đã sạc đầy, máy GPS cầm tay còn chín mươi phần trăm pin, điện thoại di động cũng đầy pin. Anh còn chuẩn bị thêm hai chiếc đèn pin dự phòng và một cuộn dây thừng. Mọi thứ được xếp ngay ngắn, sẵn sàng như một người lính trước giờ ra trận. Đã lâu lắm rồi anh mới lại thấy mình bình tĩnh đến vậy. Ba ngày trước, anh còn là kẻ hoang mang giữa hai bờ khoa học và tâm linh. Giờ đây, ngồi trong chòi lá giữa đêm bão sắp đổ bộ, anh chỉ còn một ý nghĩ duy nhất: đêm nay, anh sẽ không để ai động đến mộ mẹ mình thêm một lần nào nữa.
- Chia ca thế nào hả thầy? - Tuấn hỏi khẽ.
- Mày trực nửa đầu, tao nửa sau. Có động tĩnh gì, lay tao dậy ngay, đừng có anh hùng rơm một mình. - Thầy Bảy không ngẩng đầu, tay vẫn đều đều mài dao. - Bọn nó mà đến, chắc chắn đi đường bến đò phía sau. Mày để ý kỹ tiếng máy ghe. Đêm bão thế này, không ai ra sông ngoài bọn có ý đồ.
Tuấn gật đầu, cầm ống nhòm hướng về phía bến đò. Mưa lất phất làm ống kính mờ đi, anh phải thỉnh thoảng lau bằng vạt áo. Gió thổi qua rặng bần rì rào, mang theo mùi bùn sông tanh nồng và mùi lá mục ẩm ướt. Thỉnh thoảng, một tia chớp lóe lên phía chân trời biển, sáng lòa một thoáng rồi tắt, để lại mùi ozone khét lẹt thoảng trong gió.
- Thầy... - Tuấn ngập ngừng. - Nếu đêm nay bọn nó thật sự đến...
- Thì tao ở đây với mày. - Thầy Bảy ngắt lời, ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt Tuấn. Ánh mắt ông già trong ánh đèn pin đỏ ngầu nhưng kiên định. - Tao đã chạy trốn ba mươi năm rồi. Đêm nay tao không chạy nữa. Mày là con của nó, tao là kẻ đã rèn đinh giam nó. Đêm nay, hai thầy trò mình cùng giữ mộ cho nó. Sống chết có nhau.
Tuấn cảm thấy cổ họng nghẹn lại. Anh gật đầu, không nói thêm gì nữa. Ngoài kia, cây đa cháy xém đứng im lìm trong màn mưa mỏng, tán cây còn lại đung đưa nhè nhẹ theo gió. Từ phía hố đất đã lấp phẳng, thỉnh thoảng bốc lên một làn hơi lạnh mỏng manh, tan ngay trong mưa.
Nửa đêm trôi qua trong căng thẳng. Tuấn trực ca đầu, mắt không rời ống nhòm. Thầy Bảy nằm trên võng, nhưng Tuấn biết ông không ngủ, vì thỉnh thoảng ông lại trở mình, tay lần tìm con dao bầu đặt cạnh.
Đến lượt thầy Bảy trực, Tuấn ngả lưng xuống võng nhưng không tài nào chợp mắt được. Trong đầu anh cứ hiện lên hình ảnh mẹ trong lời kể của thầy Bảy: cô gái gánh nước nghèo, bị lừa uống chén trà bỏ thuốc mê, tỉnh dậy trong bóng tối chum sành, tay cào thành chum đến bật máu, gọi tên con trong tuyệt vọng. Anh siết chặt cây đinh đồng trong túi áo đến mức lòng bàn tay đau nhói.
Gần sáng, mưa bắt đầu rơi lất phất dày hơn. Mùi ozone khét lẹt trong gió đậm đặc hơn, dấu hiệu của những tia sét đang đánh xuống đâu đó rất gần, có lẽ ngoài khơi, có lẽ ngay trên cù lao. Mỗi lần chớp lóe lên, bóng cây đa cháy xém lại in hằn lên nền trời đen kịt như một bàn tay khổng lồ đang vươn lên.
Thầy Bảy ngồi bên cửa chòi, con dao bầu đặt ngang đùi, mắt nhìn ra màn mưa. Ông lẩm bẩm một mình, giọng khàn đặc:
- Lành ơi... đêm nay mày muốn gì thì cứ nói với tao... đừng bắt thằng nhỏ chịu thay... tội là của tao...
Gió rít lên một hồi dài qua rặng bần, như tiếng ai đó thở dài não nề. Mưa lất phất trên mái lá, tí tách, tí tách. Và trong bóng tối đặc quánh trước bình minh, cả cù lao An Thạnh nín thở chờ đợi. Không ai biết rằng ở phía bên kia sông, một chiếc ghe máy không đèn đã lặng lẽ rời bến, chở theo năm bóng người và những can nhựa đầy ắp, đang lướt đi trong mưa về phía bến đò.
Ông Cả đã trả tiền mua mạng người, và tiền của ông ta chưa bao giờ mua hụt.